vanban.org

Bản án 24/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 22/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Tịch thu đối tượng còn lại sau giám định được hoàn lại, gồm 0,0983gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả”, để tiêu hủy. Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu xanh đen đã qua sử dụng, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/HS-ST
Ngày 22 - 5 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Văn Chinh

Bà Bùi Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thịnh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1970; nơi sinh và cư trú: Thôn 9, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A (đã chết) và bà Trần Thị L; có vợ: Trần Thị B và 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 01 năm 2018 đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn S (con ruột bị cáo), sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn 9, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22 tháng 01 năm 2018, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 88F1-076.01 đi từ nhà đến khu vực chợ đầu đê thuộc xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, mục đích mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, T tìm gặp một người đàn ông, không rõ tên, tuổi, địa chỉ mua 01 gói ma túy (Heroine), với giá 180.000đ. Mua xong, T cất giấu gói ma túy vào trong người rồi đi về. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn P, xã T, huyện Y thì bị Công an huyện Yên Lạc phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng vụ án: Thu trong túi áo khoác bên trái của T 01 gói nhỏ bọc bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (T khai đó là chất ma túy Heroine), được niêm phong có ký hiệu A1; thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu xanh đen và 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88F1-076.01.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã gửi mẫu có ký hiệu A1 đi giám định.

Tại Kết luận giám định số: 132/KLGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại Heroine, có khối lượng là 0,2254g (Không phảy hai hai năm bốn gam, không kể bao bì). Khối lượng Heroine trong 0,2254g mẫu gửi giám định là 0,1235g.

Bản cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo, vì thu nhập không ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy số ma túy và toàn bộ bao gói ký hiệu A1; xác nhận Cơ quan điều tra đã trả cho anh Nguyễn Văn S 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88F1-076.01; trả cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu xanh đen, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi phạm tội của mình, hứa từ bỏ và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22 tháng 01 năm 2018, tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn P, xã T, huyện Y, Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu 01 gói ma túy trong túi áo khoác để chuẩn bị sử dụng, thì bị Công an huyện Yên Lạc phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ 01 gói ma túy Heroine, có khối lượng là 0,2254g (Không phảy hai hai năm bốn gam, không kể bao bì). Nguồn gốc 01 gói ma túy trên, T khai do T mua của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực chợ đầu đê thuộc xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01năm đến 05 năm:

a)………………………………………

………………………………………...

c) Hêrôin,… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân thì thấy bị cáo là người có sức khỏe, có hiểu biết xã hội nhưng không chịu lao động chân chính, sống đua đòi với những thành phần xấu nên nghiện chất ma túy từ nhiều năm nay và dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần phải lên mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Song, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, nên cần được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung, theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm ruộng, thu nhập thấp, không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này còn người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn T tại khu vực chợ đầu đê thuộc xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, nhưng quá trình điều tra không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ của người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát tách ra để tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về vật chứng: Sau khi giám định được hoàn trả đối tượng giám định còn lại gồm 0,0983gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả”, cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu xanh đen đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T không sử dụng vào việc phạm tội, được trả lại cho T, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Ngoài ra, Nguyễn Văn T còn sử dụng 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88F1-076.01 làm phương tiện đi mua ma túy. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe này thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn S, nhưng khi T sử dụng đi mua ma túy T không nói và anh S không biết, nên quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe mô tô trên cho anh S, nay anh S không có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 01 năm 2018.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu đối tượng còn lại sau giám định được hoàn lại, gồm 0,0983gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả”, để tiêu hủy.

Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu xanh đen đã qua sử dụng, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ