vanban.org

Bản án 24/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 29/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bảo N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bảo N 08 (tám năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/4/2018. Hình phạt bổ sung: phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Bảo N số tiền 2.000.000đồng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bảo N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bảo N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/HS-ST
Ngày: 29/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Ram.

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Liêm là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2018/TLST-HS, ngày 03 tháng 05 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 05 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bảo N, sinh năm 1997, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Ấp AL, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: không có; Trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị S; không có chồng và có 01 con; Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 30/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Ngân đã chấp hành xong vào ngày 09/12/201 .

Bị tạm giữ ngày 11/4/2018, tạm giam ngày 14/4/2018. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đỗ Thị S, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp AL, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh (có mặt .

Người làm chứng:

1/ Phạm Thành T, sinh năm 1994; Đia chỉ: Ấp BN 2, xã GB, huyện TB, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt .

2/ Trương Thành Đ, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp AL, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

3/ Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp CS, xã TĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt .

4/ Cao Văn N, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Ấp AL, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt .

5/ Đổ Thành Đ, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Ấp AL, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 11/4/2018 tại khu vực ấp HH, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Trảng Bàng bắt quả tang Nguyễn Thị Bảo N đang bán trái phép 01 bịch chất ma túy cho Phạm Thành T, với giá 300.000 đồng. Thu giữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt, tiền Việt Nam 300.000 đồng và một số vật chứng có liên quan.

Đến 16 giờ cùng ngày, Công an huyện Trảng Bàng tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo tại ấp An Lợi, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; thu giữ: 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, có một đầu viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể trong suốt; 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng; tiền Việt Nam 2.000.000 đồng và một số vật chứng khác.

Qua điều tra, thể hiện: Vào khoảng 10 giờ ngày 04/4/2018, bị cáo đến khu vực gần nhà nghỉ “Hùng Cường” thuộc Ấp AL, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh mua 01 bịch chất ma túy đá với giá 1.800.000 đồng của người tên Ch (không rõ địa chỉ , đồng thời Ch cho bị cáo thêm 01 bịch chất ma túy nhỏ, bị cáo đem về nhà để sử dụng và bán lại cho người khác. Đến khoảng 14 giờ 50 phút ngày 11/4/2018, T điện thoại hỏi mua 01 bịch chất ma túy đá với giá 300.000 đồng thì bị cáo đồng ý và hẹn gặp tại khu vực phía trước nhà bị cáo để giao nhận chất ma túy thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra, từ ngày 05/4/2018 đến ngày 11/4/2018, bị cáo còn bán trái phép chất ma túy cho T được 02 lần, bán cho Trương Thành Đ, sinh năm 1993, được 01 lần; mỗi lần bán 01 bịch với giá từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của T và Đ.

Tại Kết luận giám định số 342/KL-KTHS ngày 13/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:

Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín (thu giữ lúc bắt quả tang là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0510 gam;

Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt, có một đầu viền màu đỏ được bịt kín là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,3584 gam;

Mẫu chất bột màu trắng bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,0555 gam.

Vật chứng thu giữ: Có bản kê kèm theo.

Qua xác minh, Nguyễn Thị Bảo N không có tài sản nên không kê biên.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Bảo N, Phạm Thành T, Trương Thành Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Riêng người tên Ch mà bị cáo khai có bán chất ma túy cho bị cáo, hiện không rõ địa chỉ và chưa làm việc được; Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Bảo N thừa nhận hành vi phạm tội, vật chứng bị thu giữ như nội dung vụ án đã nêu .

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị S xác định: khoảng 9 giờ ngày 11/4/2018 bà có cho bị cáo Nguyễn Thị Bảo N mượn 2.000.000 đồng để chở con bị cáo là cháu ngoại của bà đi khám bệnh Tại (bl 72). Tại phiên tòa bà S xác định tiền bà cho bị cáo mượn đa số loại giấy bạc mệnh giá 500.000đồng, 200.000đồng, 100.000đồng, 50.000đồng... nói chung đủ loại bà không thể nhớ, vì tiền bà đi mua bán và xác định cho bị cáo mượn vài ngày trước khi bị cáo bị bắt quả tang, Công an có đến nhà khám xét và thu giữ số tiền 2.000.000 đồng trong phòng của bị cáo. Bà S không yêu cầu nhận lại số tiền trên để bà và bị cáo tự giải quyết.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKS, ngày 30/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bảo N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bảo N mức án từ 07 đến 08 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị Bảo N không có có tài sản không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Bảo N.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thị Bảo N nói lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định từ ngày từ ngày 05/4/2018 đến ngày 11/4/2018, bị cáo Nguyễn Thị Bảo N đã thực hiện 04 vụ mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:

Vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 11/4/2018 tại khu vực ấp HH, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Trảng Bàng bắt quả tang bị cáo đang bán trái phép 01 bịch chất ma túy cho Phạm Thành T, với giá 300.000 đồng. Thu giữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt, tiền Việt Nam 300.000 đồng và một số vật chứng có liên quan ( bl 1; 2).

Đến 16 giờ cùng ngày, khám xét nơi ở của bị cáo thu giữ: 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, có một đầu viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể trong suốt; 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng; tiền Việt Nam 2.000.000 đồng và một số vật chứng khác.(bl 32; 33)

Ngày 05/4/2018 và 8/4/2018 tại khu vực ấp AL xã AH, bị cáo bán trái phép chất ma túy cho Phạm Thành T mổi ngày 01 bịch ma túy đá với giá 200.000 đồng.( bl 62; 64)

Lúc h 30 ngày 11/4/2018 tại khu vực ấp AL xã AH, bị cáo bán trái phép chất ma túy cho Trương Thành Đ 01 bịch ma túy đá với giá 400.000 đồng.( bl 62; 66)

Tại Kết luận giám định số 342/KL-KTHS ngày 13/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:

Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín (thu giữ lúc bắt quả tang là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0510 gam;

Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt, có một đầu viền màu đỏ được bịt kín là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,3584 gam;

Mẫu chất bột màu trắng bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,0555 gam.

Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thị Bảo N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện TB là có căn cứ.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cụ thể:

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không. Bị cáo Nguyễn Thị Bảo N không có tiền án nhưng nhân thân xấu, có 1 tiền sự: Ngày 30/3/201 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo đã chấp hành xong vào ngày 09/12/201 .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Bảo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự động khai báo về hành vi phạm tội trước đó. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm r,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” và Khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 quy định hình “Mức phạt tiền được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội,...,nhưng không được thấp hơn 1.000.000đồng”.

Xét thấy: Ngày 11/4/2018 bị cáo bị Công an huyện Trảng Bàng bắt quả tang bị cáo đang thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, khám xét nơi ở có thu giữ của bị cáo 2.000.000đồng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai là mượn của bà S là mẹ ruột của bị cáo số tiền trên, số tiền bị cáo mượn là loại giấy bạc mệnh giá 500.000đồng, 200.000đồng và 100.000đồng nói chung bị cáo không thể nhớ, vì khi ấy bị cáo còn đang ngủ, bà S đem bỏ dưới niệm chổ bị cáo ngủ. Nhưng theo bà S xác định bà S cho bị cáo mượn vài ngày trước khi bị cáo bị bắt quả tang, tiền và bà S cho bị cáo mượn đa số loại giấy bạc mệnh giá 500.000đồng, 200.000đồng 100.000đồng, 50.000đồng... nói chung đủ loại bà không thể nhớ vì tiền bà S đi mua bán. Nên không có căn cứ để chứng minh số tiền trên là của bà S mà có căn cứ xác định số tiền trên của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Bảo N số tiền 2.000.000đồng.

Về xử lý vật chứng:

01 ( một bì thư được niêm phong vụ số 342/KL-KTHS ( gói 2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và giám định viên Võ Quốc Thái, sau khi giám định bên trong còn lại 1,2505 gam chất ma túy là loại Methamphetamine; 04 cái kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng); 09 bịt nilon trong suốt, có 1 đầu được bịt kín, một đầu hở, bên trong rỗng; 30 (ba mươi bịt nilon trong suốt, so một đầu hở có viền đỏ, một đầu hở, bên trong rỗng; 18(Mười tám) ống thủy tinh trong suốt; 01 ống hút nhựa màu xanh, hở 2 đầu, có một đầu nhọn, bên trong rỗng; 01 một bật lửa màu hồng hiệu Bic (đã qua sử dụng); 01 một bật lửa màu đỏ có chữ BOSS/AZ (đã qua sử dụng); 01 bình thủy tinh có nấp nhựa màu đỏ, trên nắp có gắn một ống hút thủy tinh dạng phễu và một ống nhựa màu trắng. Tất cả là tang vật phạm tội cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Số tiền 2.300.000 đồng của Bị cáo N trong đó có 300.000đồng là tiền mua bán chất ma túy mà có. Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015. Riêng số tiền 2.000.000đồng bị cáo khai mượn của bà S nhưng không có cơ sở chứng minh. Xét thấy số tiền trên không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo N là phù hợp. Tuy nhiên, cần giữ lại để đảm bảo thi hành án

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, loại 105, số IMEI 1: 353677/07/122277/0, sim số: 01696061623 của bị cáo Nguyễn Thị Bảo N dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước là phù hợp với Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tại phiên tòa bà S không yêu cầu giải quyết phần tiền 2.000.000đồng đã cho bị cáo N mượn nên cần ghi nhận.

Tất cả các vật chứng này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện TB đang quản lý.

Về án phí: Áp dụng Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bảo N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bảo N 08 (tám năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/4/2018.

Hình phạt bổ sung: phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Bảo N số tiền 2.000.000đồng

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một bì thư được niêm phong vụ số 342/KL-KTHS (gói 2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và giám định viên Võ Quốc Thái, sau khi giám định bên trong còn lại 1,2505 gam chất ma túy là loại Methamphetamine; 04 cái kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng); 09 bịt nilon trong suốt, có 1 đầu được bịt kín, một đầu hở, bên trong rỗng; 30 (ba mươi bịt nilon trong suốt, so một đầu hở có viền đỏ, một đầu hở, bên trong rỗng; 18(Mười tám ống thủy tinh trong suốt; 01 ống hút nhựa màu xanh, hở 2 đầu, có một đầu nhọn, bên trong rỗng; 01 một bật lửa màu hồng hiệu Bic (đã qua sử dụng); 01 một bật lửa màu đỏ có chữ BOSS/AZ (đã qua sử dụng); 01 bình thủy tinh có nấp nhựa màu đỏ, trên nắp có gắn một ống hút thủy tinh dạng phễu và một ống nhựa màu trắng.

Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, loại 105, số IMEI 1: 353677/07/122277/0, sim số: 01696061623 của bị cáo Nguyễn Thị Bảo N.

Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thị Bảo N số tiền 2.000.000đồng (cần giữ lại để đảm bảo thi hành án).

Ghi nhận: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị S không yêu cầu giải quyết số tiền 2.000.000 đồng đã cho bị cáo N mượn.

Tất cả các vật chứng này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện TB đang quản lý.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Bảo N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo Nguyễn Thị Bảo N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị S được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ