vanban.org

Bản án 24/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 25/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 17 (mười bảy) tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ (27/02/2018). Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 0,116 gam heroine đựng trong bì thư niêm phong, hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, có đặc điểm như mô tả t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn VĂn Q tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/HS-ST
Ngày 25-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường.

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Vũ Đăng Đông và ông Nhữ Văn Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Cao Nguyên – Thư ký TAND huyện Bình Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa:

Bà Dương Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở TAND huyện Bình Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986 tại xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn Yên Tập, xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc : Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Mạnh và bà Chu Thị Doan; có vợ và 01 con; tiền án: 01 tiền án; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 27/02/2018 chuyển tạm giam từ ngày 28/02/2018 tại trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Anh Dương Công T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

- Ông Phạm Văn Phương, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Khu H, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Q nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 27/02/2018, Nguyễn Văn Q điều khiển xe mô tô BKS 89F9-6253 mượn của của ông Nguyễn Văn M là bố đẻ của Q, đi từ nhà ở thôn Yên Tập, xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đến khu Hạ, xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương và mua của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ 02 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng về sử dụng. Sau khi mua, Q đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đoạn đường An Hòa thuộc khu Hạ, xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương thì bị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bình Giang bắt quả tang và thu giữ trên người Q 02 gói giấy màu trắng bạc, trong có chất bột dạng cục màu trắng; quản lý chiếc xe mô tô BKS 89F9-6253.

Tại bản kết luận giám định số 203/KLGĐ-PC54 ngày 28/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột màu trắng (dạng cục) ghi thu của Nguyễn Văn Q gửi đến giám định có trọng lượng là 0,201 gam là loại Heroine. Hoàn lại đối tượng sau giám định là 0,116 gam Heroine.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 03/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố Nguyễn Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo từ 17 đến 20 tháng tù, tính từ ngày tạm giữ 27/02/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,116 gam Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Tại phiên tòa, Nguyễn Văn Q khai nhận đã thực hiện hành vi cất trữ ma túy trái phép trong người với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, như nội dung nêu trên. Bị cáo nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ sơ vụ án về hành vi của bị cáo Q thực hiện ngày 27/02/2018 thống nhất với nội dung sự việc nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Q phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 27/02/2018, Nguyễn Văn Q đi từ nhà sang xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương và mua 02 gói ma túy loại Heroine để sử dụng. Sau khi mua ma túy, bị cáo đi đến đường An Hòa thuộc khu Hạ, xã Tráng Liệt thì bị bắt quả tang đang cất giấu trong người 02 gói ma tuý nêu trên, có tổng trọng lượng là 0,201 gam. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm Luật phòng chống ma tuý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về sử dụng các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi nhận thức rõ được hậu quả, là có lỗi cố ý. Hành vi này đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự nên xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015;

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản tại bản án số 153 ngày 22/8/2012 (bị cáo phạm tội theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự 1999 và không thuộc trường hợp tái phạm). Bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 21/01/2017, tính đến ngày phạm tội lần này chưa được xóa án tích, nên thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng và biện pháp tư pháp: 0,116 gam Heroine đựng trong bì thư hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Chiếc xe mô tô BKS 89F9-6253 Q mượn của ông M đi mua ma túy, nhưng khi mượn Q không cho ông Mạnh biết mục đích sử dụng xe, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông M là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 17 (mười bảy) tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ (27/02/2018).

Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 0,116 gam heroine đựng trong bì thư niêm phong, hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2018 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Giang với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Giang.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/5/2018).

Cỡ chữ