- Tranh chấp gì? án hình sự — "Luân Văn Q - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Luân Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2018/HS-ST Ngày: 07-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thúy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lăng Văn Thủy
Bà Đinh Thị Mĩ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Bưởi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HS ngày 26/8/2018 đối với bị cáo:
Luân Văn Q. Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 07/9/1978, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hóa: Lớp 02/12. Dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Luân Văn H và bà Hoàng Thị N; vợ: Hà Thị N; con: có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: 01: Ngày 15/01/2018 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
*Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Phạm Ngọc N. Sinh năm 1970. Trú tại: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Hà Long L. Sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Hà Văn H. Sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Luân Xuân H. Sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Triệu Văn C. Sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Triệu Văn Q. Sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Bế Văn T. Sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Triệu Văn Đ. Sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Hoàng Thị B. Sinh năm 1964.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Luân Hoàng T. Sinh năm 1976.
Trú tại: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Triệu Văn H. Sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Thôn P1, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Hà Văn P. Sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Thôn P1, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Hà Văn K. Sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Thôn P1, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Triệu Đức T. Sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Nguyễn Đức T. Sinh năm 1976.
Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Luân Văn S. Sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Tất cả đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 10 phút ngày 07/4/2018, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Công an xã T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang tại khu đồi C thuộc thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn một số người đang đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền, gồm: Phạm Ngọc N, sinh năm 1970, trú tại thôn P, xã T; Hà Long L, sinh năm 1989; Hà Văn H, sinh năm 1987; Luân Xuân H, sinh năm 1994; Triệu Văn C, sinh năm 1974 cùng trú tại thôn C, xã T; Luân Hoàng T sinh năm 1976, trú tại thôn P, xã T Triệu Văn H, sinh năm 1984; Hà Văn P, sinh năm 1990; Hà Văn K, sinh năm 1973 cùng trú tại thôn P1, xã T; Triệu Đức T, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã T; Nguyễn Đức T, sinh năm 1976; Luân Văn S, sinh năm 1982, cùng trú tại thôn N, xã T; Luân Văn Q, sinh năm 1978; Triệu Văn Q sinh năm 1988; Bế Văn T sinh năm 1987; Triệu Văn Đ sinh năm 1994, cùng trú tại thôn C, xã T.
Tại vị trí đánh bạc, tạm giữ 01 bát con sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bằng tre hình vuông được cắt nhỏ một mặt màu trắng, một mặt màu đen; Số tiền 2.390.000đ (Hai triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng); 01 đèn pin màu vàng xanh có dây đeo màu đen; Tạm giữ trên người các đối tượng số tiền 2.720.000đ (Hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng); 09 điện thoại di động , 02 chiếc ví đã qua sử dụng ; 01 chứng minh thư nhân dân, cụ thể: Phạm Ngọc N số tiền 1.520.000đ, 01 điện thoại di động VIBE, 01 ví màu đen , 01 chứ ng minh thư nhân dân ; Hà Long L 01 điệ n thoạ i di độ ng Masstel; Luân Xuân H số tiề n 750.000đ, 01 điệ n thoạ i di độ ng Sam Sung, 01 điệ n thoạ i di độ ng Masstel , 01 ví màu nâu ; Triệ u Văn C 01 điệ n thoại di động OPPO mà u đen; Luân Hoà ng T 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO; Triệ u Văn H 01 điệ n thoại di động Sam Sung màu hồng; Hà Văn K 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO, số tiề n 450.000đ; Triệ u Đứ c T 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO mà u và ng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định : Ngày 07/4/2018 gia đình bà Hoàng Thị B, sinh năm 1964, trú tại thôn C, xã T, huyện B tổ chứ c đá m cướ i cho con gá i, sau khi tham dự đám cưới xong . Đế n khoảng 21 giờ cùng ngày các đối tượng rủ nhau lên khu vực đồi C thuộc thôn C, xã T, để đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền mặt. Hà Văn H lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ tại nhà bà B , Luân Hoàng T làm 04 quân hì nh vuông, mộ t mặ t mà u trắ ng mộ t mặ t mà u đen , 01 chiếc đèn pin dùng để chiếu sáng phục vụ việc đánh bạc không rõ của ai , do ai mang đến. Hình thức đánh bạc sử dụng 04 quân bằ ng tre đượ c cắ t nhỏ hì nh vuông, mộ t mặ t mà u trắ ng mộ t mặ t mà u đen để lên 01 đĩ a sứ rồ i dù ng 01 bát sứ úp lại , nhữ ng ngườ i tham gia bắ t đầ u đặ t cượ c “chẵ n” hoặ c “lẻ ” người cầm cái cầm bộ bát đĩa xóc để xáo trộn "04 quân", sau khi ngườ i tham gia đã đặ t cượ c xong , ngườ i cầ m cá i đặ t bộ bá t đĩ a sứ xuố ng và mở bá t sứ nế u trên đĩ a có 04 quân hoặ c 02 quân cùng màu là chẵn còn lại là lẻ , ngườ i nà o đặ t cượ c đú ng cử a sẽ đượ c trả số tiề n bằ ng tiề n cượ c (tỉ lệ 1:1, cụ thể đặt cược 10.000đ nế u thắ ng đượ c 10.000đ), ngườ i nào thua sẽ mất số tiền đã đặt cược . Nế u số tiề n đặ t cượ c g iữ a hai cử a “chẵ n” và “lẻ ” không bằ ng nhau thì ngườ i cầ m cá i sẽ nhậ n đặ t cượ c phầ n chênh lệ ch đó vớ i ngườ i chơi hoặ c yêu cầ u ngườ i chơi rú t lạ i số tiề n cượ c . Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện B bắt quả tang, tạm giữ số tiền 2.390.000đ (Hai triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) tại vị trí đánh bạc là tiền của những người tham gia đánh bạc sử dụng để đánh bạc.
Tại Bản cáo trạng số 21/CT-VKS-BT ngày 26/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Luân Văn Q về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321/ BLHS 2015;
* Điều 321/BLHS 2015 có nội dung:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.…
…
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35/BLHS.
Phạt tiền bị cáo Luân Văn Q từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không có.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS 2015.
* Ngày 31/5/2018 Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an huyện B đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các đồ vật tài liệu, gồm:
- Phạm Ngọc N 01 điệ n thoạ i di độ ng VIBE, 01 ví màu đen, 01 chứ ng minh thư nhân dân và số tiề n1.520.000đ;
- Hà Long L 01 điệ n thoạ i di độ ng Masstel;
- Luân Xuân H 01 ví màu nâu, 01 điệ n thoạ i di độ ng Sam Sung mà u trắ ng, 01 điệ n thoại di động Masstel màu đen và số tiền750.000đ;
- Triệ u Văn H 01 điệ n thoạ i di độ ng Sam Sung mà u hồ ng;
- Luân Hoà ng T 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO;
- Triệ u Văn C 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO mà u đen;
- Hà Văn K 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO;
- Triệ u Đứ c T 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO mà u và ng.
* Đối với số vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy gồm:
+ 01 bát sứ;
+ 01 đĩa sứ;
+ 04 quân bằng tre cắt nhỏ hình vuông một mặt màu trắng, một mặt màu đen;
+ 01 đèn pin màu vàng xanh có dây treo màu đen;
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu “PB” bên trong có các phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “A”, “Nguyên”, “Lành”, “Huy”, “Chính”, “Tuyên”, “Hợp”, “Khôi”, “Tăng”.
* Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
+ Số tiền 2.390.000đ (Hai triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu “A1”;
+ Số tiền 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu “Khôi 1”.
* Tạm giữ số tiền 20.000.000 đồng của bị cáo Luân Văn Q nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và nói lời sau cùng xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhữ ng người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Ngày 07/4/2018 tại khu đồi C thuộc thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Luân Văn Q đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền mặt với Phạm Ngọc N, Hà Long L, Hà Văn M, Luân Xuân H, Triệu Văn C, Luân Hoàng T, Triệu Văn H, Hà Văn P, Hà Văn K, Triệu Đức T, Nguyễn Đức T, Bế Văn T, Triệu Văn Đ, Triệu Văn Q, Luân Văn S. Số tiền chứng minh được những người tham gia đánh bạc sử dụng vào việc đánh bạc là 2.840.000 đồng. Ngày 15/01/2018 Luân Văn Q bị Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Số tiền đánh bạc vào ngày 07/4/2018 chưa đến 5.000.000 đồng nhưng Luân Văn Q đã có tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội . Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo Luân Văn Q về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương vì vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 15/01/2018 bị Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51/BLHS. Trong giai đoạn truy tố bị cáo tự nguyện nộp khoản tiền 20.000.000 đồng thể hiện sự ăn năn, hối cải, bị cáo có bố vợ là ông Hà Văn S được tặng thưởng huân chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã nộp một khoản tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B xét thấy phạt tiền bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm răn đe giáo dục, và phòng ngừa chung.
.Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
.Về trách nhiệm dân sự: Không có.
. Trong vụ á n nà y có : Phạm Ngọc N, Hà Long L, Hà Văn M, Luân Xuân H, Triệu Văn C, Luân Hoàng T, Triệu Văn H, Hà Văn P, Hà Văn K, Triệu Đức T, Nguyễn Đức T, Bế Văn T, Triệu Văn Đ, Triệu Văn Q, Luân Văn S là những người tham gia đá nh bạ c nhưng số tiề n chưa đế n 5.000.000đ và bả n thân nhữ ng ngườ i này chưa có tiền án, tiề n sự về tộ i, hành vi đánh bạc, tổ chứ c đá nh bạ c hoặ c gá bạ c nên hà nh vi không cấ u thành tội phạm. Do đó Cơ quan điề u tra đã xử lý bằ ng biệ n pháp khác.
Đối với bà Hoàng Thị B không biết việc các đối tượng lợi dụng đám cưới của gia đình mình để tụ tập đánh bạc và bà Biên cũng không bi ết việc Hà Văn H lấy 01 bát sứ , 01 đĩa sứ của gia đình làm dụng cụ đánh bạc nên Cơ quan cả nh sá t điề u tra không xem xé t xử lý .
. Về vật chứng:Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
+ 01 bát sứ;
+ 01 đĩa sứ;
+ 04 quân bằng tre cắt nhỏ hình vuông một mặt màu trắng, một mặt màu đen;
+ 01 đèn pin màu vàng xanh có dây treo màu đen;
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu “PB” bên trong có các phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “A”, “Nguyên”, “Lành”, “Huy”, “Chính”, “Tuyên”, “Hợp”, “Khôi”, “Tăng”.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
+ Số tiền 2.390.000đ (Hai triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu “A1”;
+ Số tiền 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu “Khôi 1”.
- Các đồ vật, tài liệu không liên quan đến vụ án đã trả lại cho chủ sở hữu gồm:
+ Phạm Ngọc N 01 điệ n thoạ i di độ ng VIBE , 01 ví màu đen, 01 chứ ng minh thư nhân dân và số tiề n1.520.000 đồng;
+ Hà Long L 01 điệ n thoạ i di độ ng Masstel;
+ Luân Xuân H 01 ví màu nâu, 01 điệ n thoạ i di độ ng Sam Sung mà u trắ ng, 01 điệ n thoạ i di độ ng Masstel mà u đen và số tiề n750.000 đồng;
+Triệ u Văn H 01 điệ n thoạ i di độ ng Sam Sung mà u hồ ng;
+Luân Hoà ng T 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO;
+Triệ u Văn C 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO mà uđen;
+Hà Văn K 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO;
+Triệ u Đứ c T 01 điệ n thoạ i di độ ng OPPO mà u và ng.
- Tạm giữ số tiền 20.000.000 đồng của bị cáo Q nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo Biên lai số 09095 ngày 18 tháng 8 năm 2018.
. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Tuyên bố: Bị cáo Luân Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35/BLHS.
Phạt tiền bị cáo Luân Văn Q 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bát sứ;
+ 01 đĩa sứ;
+ 04 quân bằng tre cắt nhỏ hình vuông một mặt màu trắng, một mặt màu đen;
+ 01 đèn pin màu vàng xanh có dây treo màu đen;
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu “PB” bên trong có các phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “A”, “Nguyên”, “Lành”, “Huy”, “Chính”, “Tuyên”, “Hợp”, “Khôi”, “Tăng”.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
+ Số tiền 2.390.000đ (Hai triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu “A1”;
+ Số tiền 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu “Khôi 1”.
- Tạm giữ số tiền 20.000.000 đồng của bị cáo Q nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo Biên lai số 09095 ngày 18 tháng 8 năm 2018 để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.
Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B 1; - VKSND tỉnh Bắc Kạn 1; - CA huyện B 2; - Bị cáo 1; - NCQLNVLQ 16 - TA tỉnh 1; - Sở tư pháp 1; - THADS 1; - Lưu Hồ sơ vụ án 1; - Lưu 1; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lý Thị Thúy |