- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Thị X phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Thị X phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2018/HS-PT Ngày: 16-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Hằng
Bà Lò Thị Xuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Công, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 25/2018/TLPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Lường Thị X do có kháng cáo của bị cáo Lường Thị X đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2018/HS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
Bị cáo có kháng cáo:
Lường Thị X; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979 tại xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nông nghiệp; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn T, sinh năm 1938 và con bà Lường Thị H, sinh năm 1940, có chồng Lò Văn Ngh (đã chết) và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính; tạm giữ từ ngày 13/01/2018 đến ngày 16/01/2018, tại ngoại ngày 16/01/2018, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Người phiên dịch:ông Lò Văn H - Sinh năm: 1997 có mặt tại phiên tòa
Địa chỉ Tổ 16, Phường M, Thành phố Đ, tỉnh Điện Biện
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 12/01/2018, bị cáo điều khiển xe máy từ nhà ra thị trấn T để mua máy giặt cho gia đình. Khoảng 16 giờ cùng ngày đi về đến đoạn đường thuộc bản N 3, xã N, huyện T, bị cáo gặp một người nam giới dân tộc Thái, không quen biết. Người đó hỏi bị cáo X: “chị có mua thuốc không?”, bị cáo hỏi lại: “chú bán thế nào”, người đó trả lời “một gói giá 50.000đ”; bị cáo X nói: “bán cho tôi 01 gói”. Người đó nhận 50.000đ của bị cáo rồi đưa cho bị cáo 01 gói heroine được gói trong mảnh nilon màu xanh. Bị cáo mang gói heroine cất giấu dưới đệm giường ngủ mục đích để khi đau bụng thì dùng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phát hiện và thu giữ. Khi bắt giữ bị cáo X cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 gói heroine dưới đệm giường ngủ của bị cáo và tạm giữ số tiền 2.800.000đồng.
Ngày 13/01/2018, Cơ quan điều tra công an huyện Tuần Giáo tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng. Số Heroine thu được của Lường Thị X được xác định khối lượng là 0,15 gam.
Tại bản Kết luận giám định số: 230/GĐ-PC54 ngày 22/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu vật gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Thị X là chất ma túy; loại Heroine; trọng lượng vật chứng thu giữ là 0,15 gam.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2018/HSST, ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đã quyết định:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của BLHS; Điều 106, 136 của BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH;
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Thị X phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Thị X 12 (mười hai) tháng tù, được trừ 03 (ba) ngày đã tạm giữ. Thời gian còn lại phải chấp hành tiếp là 11 (mười một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên phần vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Sau khi tuyên án, bị cáo Lường Thị X có đơn kháng cáo đề ngày 03/5/2018 xin cho hưởng án treo, nêu lí do: bị cáo phạm tội lần đầu, là lao động chính trong gia đình, nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, gia đình hai bên nội ngoại đều có người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm vì không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo. Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Lường Thị X gửi trong hạn đúng theo quy định tại các điều 331, 332, 333 của BLTTHS nên được chấp nhận để xem xét.
Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 16 giờ ngày 12/01/2018, bị cáo mua 0,15 gam Heroine của một người nam giới dân tộc Thái, không quen biết với giá 50.000đ. Bị cáo cất giấu gói heroine dưới đệm giường ngủ mục đích để khi đau bụng thì dùng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phát hiện và thu giữ. Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Lường Thị X để xử phạt bị cáo 12 tháng tù là thỏa đáng, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin cho hưởng án treo với lý do bị cáo phạm tội lần đầu, là lao động chính trong gia đình, nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, gia đình hai bên nội ngoại đều có người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến. Tại phiên tòa phúc thẩm HĐXX đã làm rõ tính đến thời điểm hiện tại trong 04 người con của bị cáo thì có 02 người còn đã trên 20 tuổi và có khả năng lao động do đó bị cáo không phải là lao động chính trong gia đình; những người có công với cách mạng như lời khai của bị cáo là bố chồng và cậu ruột của bị cáo X đây không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 của BLHS; bị cáo cũng không xuất trình được tài liệu gì để chứng minh cho việc xin cho hưởng án treo của mình, do đó không có căn cứ để chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo. HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa phúc thẩm, cần căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, tuy nhiên bị cáo Lường Thị X là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án cần miễn toàn bộ án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lường Thị X. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 51/2018/HSST, ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Thị X phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Thị X 12 (mười hai) tháng tù, khấu trừ cho bị cáo 03 (ba) ngày tạm giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại.
2.3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Lường Thị X.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND huyện Tuần Giáo; - TAND huyện Tuần Giáo; - Công an huyện Tuần Giáo; - Bị cáo; - UBND xã N; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hòa |