vanban.org

Bản án 24/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K là vợ chồng.

Về con chung, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K như sau: Bà Nguyễn Thị T chịu trách nhiệm và tiếp tục nuôi dưỡng 01 người con chung tên là Trần Hoài L (giới tính nam), sinh ngày 14-10-2005. Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Trần Văn K cấp dưỡng nuôi con. Ông Trần Văn K có…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 24/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 03-4-2018
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Đức Hưng.

Ông Nguyễn Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 03 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2018/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 3 năm 2018, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 (có mặt).

Cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1980 (có mặt).

Cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 02 năm 2018 và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T trình bày: Vào năm 2004 bà và ông Trần Văn K chung sống với nhau như vợ chồng, đến nay không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn kéo dài nên giữa vợ chồng không hòa hợp và không thể tìm được hạnh phúc. Bà và ông Trần Văn K không còn sống chung với nhau từ tháng 01-2016. Nay bà yêu cầu ly hôn ông Trần Văn K. Về con chung, có một người tên là Trần Hoài L, sinh ngày 14-10-2005, hiện đang do bà nuôi dưỡng. Nay bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Trần Văn K cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản ngày 22-3-2018 và tại phiên tòa, ông Trần Văn K trình bày: Về thời gian sống chung với bà Nguyễn Thị T và không đăng ký kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng và thời gian không còn sống chung đúng như bà Nguyễn Thị T trình bày. Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý. Về con chung, có một người tên là Trần Hoài L đúng như bà Nguyễn Thị T đã khai. Ông đồng ý giao con chung cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung là không có nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn ông Trần Văn K là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét về hôn nhân, bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2004 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Căn cứ vào Điều 9, 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K không được công nhận là vợ chồng.

[3] Về con chung, có 01 người tên là Trần Hoài L, sinh ngày 14-10-2005, hiện đang do bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K thống nhất thỏa thuận giao con chung cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi, ông Trần Văn K không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật. Đông thời Trần Hoài L cũng có nguyện vọng được sống cùng với bà Nguyễn Thị T. Từ đó, cần ghi nhận sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K.

[4] Tài sản chung và nợ chung không có và các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

1. Không công nhận bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K là vợ chồng.

2. Về con chung, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn K như sau: Bà Nguyễn Thị T chịu trách nhiệm và tiếp tục nuôi dưỡng 01 người con chung tên là Trần Hoài L (giới tính nam), sinh ngày 14-10-2005. Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Trần Văn K cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006917 ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ