- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị KIm N - Hồ Đình P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:24/2018/HNGĐ-ST Ngày: 28 – 3 - 2018 V/v tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Tấn Thọ
Ông Nguyễn Văn Chậu
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nhân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Loan -Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 415/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:21/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 1990 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp 2, xã TT, huyện BĐ, tỉnh BT.
Chổ ở hiện nay: Ấp BH 1, xã ĐHL, huyện BĐ, tỉnh BT.
- Bị đơn: Hồ Đình P, sinh năm: 1980 (Vắngmặt)
Địa chỉ: Ấp 2, xã TT, huyện BĐ, tỉnh BT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn xin ly hôn đề ngày 18/8/2017 và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N trình bày:
Chị và anh Hồ Đình P kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã ĐHL, huyện BĐ, tỉnh BT. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2017 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do cả hai thường xuyên cải vả và nhiều lần vợ chồng ẩu đả lẫn nhau. Chị và anh P ly thân từ tháng 4 năm 2017 đến nay, cả hai sống riêng không có hàn gắn lại tình cảm. Quá trình chung sống chị với anh P có với nhau 02 con chung Hồ Phương A, sinh ngày: 29/7/2010 và Hồ Hà A, sinh ngày: 25/4/2015 hiện chị đang nuôi dưỡng. Tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: Không có.
Tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay chị Nguyễn Thị Kim N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Hồ Đình P.
- Về con chung: Ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
-Tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
-Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Tại bản tự khai ngày 04/12/2018, bị đơn anh Hồ Đình P trình bày:
Anh yêu cầu được nuôi 02 con chung Hồ Phương A và Hồ Hà A vì thu nhập của anh đủ điều kiện nuôi 02 con chung. Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: Không có. Hôn nhân thì Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thực hiện đúng, đầy đủ về thời gian và gởi thông báo thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 196, 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn trong vụ án đã chấp hành đúng và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, anh P vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 13/3/2018, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh P là phù hợp, đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim N. 02 con chung để chị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.Tài sản chung: Chị N và anh P không yêu cầu giải quyết nên không xét đến. Nợ chung: Chị N và anh P khai thống nhất không có nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Anh Hồ Đình P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 13/3/2018. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh P là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Kim N và anh Hồ Đình P kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐHL, huyện BĐ, tỉnh BT, phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cả hai chung sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2017 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân, theo chị N khai là do quá trình chung sống cả hai không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cải vả và nhiều lần vợ chồng ẩu đả lẫn nhau. Cả hai ly thân từ tháng 4 năm 2017 đến nay, mạnh ai nấy sống, không quan tâm nhau, không hàn gắn lại tình cảm. Chị N vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh P. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị N và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh P là có căn cứ quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Chị N và anh P khai thống nhất quá trình chung sống vợ chồng anh chị có với nhau 02 con chung Hồ Phương A, sinh ngày: 29/7/2010 và Hồ Hà A, sinh ngày: 25/4/2015 hiện chị N đang nuôi dưỡng. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Tại bản tự khai ngày 04/12/2018, anh P yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung vì anh có khả năng kinh tế. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay chị N là người trực tiếp đang nuôi dưỡng 02 con chung, nguyện vọng của cháu Phương A là được sống với mẹ, chị N. Thấy rằng, trong thời gian chị N và anh P ly thân, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, 02 con chung là nữ, phát triển bình thường, cháu lớn là Phương A được mẹ cho đi học, cháu nhỏ là Hà A được mẹ cho đi nhà trẻ, chăm sóc và phát triển tốt. Để tránh sự thay đổi về người nuôi con, môi trường sinh sống, tâm lý của đứa trẻ và nguyện vọng của con chung Phương A trên 07 tuổi là muốn sống với mẹ, chị N. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung của chị N, không chấp nhận yêu cầu được nuôi cả 02 con chung của anh P. Chị N được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Hồ Phương A, sinh ngày: 29/7/2010 và Hồ Hà A, sinh ngày: 25/4/2015 là phù hợp quy định pháp luật theo Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chị N nuôi dưỡng 02 con chung không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị N nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không xem xét giải quyết là phù hợp.
Về tài sản chung: Chị N và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về nợ chung: Chị N và anh P khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị N phải chịu theo luật định là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim N.
2. Chị Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với anh Hồ Đình P.
3. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim N được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Hồ Phương A, sinh ngày: 29/7/2010 và Hồ Hà A, sinh ngày: 25/4/2015. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong thời gian con chung của chị N và anh P chưa thành niên, chị N có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, anh P có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Anh P không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
4.Tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim N và anh Hồ Đình P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.
5.Nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim N và anh Hồ Đình P khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
6. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0006119 ngày 26/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, chị N đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Hồ Đình P vắng mặt tại phiên Tòa cũng có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bến Tre; (Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và THA) -VKSND huyện Bình Đại; -Chi cục THA dân sự huyện Bình Đại; -UBND xã ĐHL; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Phƣơng |