- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Hồng T - Anh Trần Minh N"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Chị Nguyễn Hồng T.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2018/HNGĐ-PT Ngày: 04 - 7 - 2018 V/v xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Yên
Các Thẩm phán:
Bà Hoàng Thị Hải Hà
Ông Hồ Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Răng – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2018/TLPT- HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về việc “Xin ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 66/2018/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 142/2018/QĐ-PT ngày 12 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng T – sinh năm: 1991 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Hoàng P – Văn phòng luật sư Trần Hoàng P thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau
- Bị đơn: Anh Trần Minh N – sinh năm: 1983 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Chị Nguyễn Hồng T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Nguyễn Hồng T trình bày: Chị và anh Trần Minh N kết hôn năm 2009, có đăng ký tại UBND xã T, huyện Đ. Thời gian sống chung phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm trong sinh hoạt hàng ngày. Anh N nhiều lần mắng chửi, dùng vũ lực với chị nên chị về nhà cha mẹ ruột ở từ ngày 20/7/2017 cho đến nay. Thời gian qua Gia đình hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, chị xác định tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với anh N.
Chị và Anh N có hai con chung, các cháu tên Trần Nguyễn Linh P sinh ngày 05/11/2010 và Trần Nguyễn Hải C sinh ngày 24/6/2016. Sau khi ly hôn chị đồng ý giao hai con cho Anh N trực tiếp nuôi, chị không cấp dưỡng.
Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Trần Minh N trình bày: Anh thống nhất với trình bày của chị T về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung.
Anh nhận những lần mâu thuẫn có lúc nóng giận anh có đánh chị T, chị T bỏ về nhà cha mẹ ruột từ ngày 20/6/2017 âm lịch và không về thăm con cho đến nay.
Tại toà, anh đồng ý ly hôn và nuôi con chung, yêu cầu chị T cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Từ nội dung trên, tại bản án sơ thẩm số 66/2018/HNGĐ -ST ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận cho Chị Nguyễn Hồng T ly hôn với anh Trần Minh N.
Về con chung: Giao hai con chung tên Trần Nguyễn Linh P sinh ngày 05/11/2010 và Trần Nguyễn Hải C sinh ngày 24/6/2016 cho anh Trần Minh N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 650.000 đồng/ cháu, phương thức cấp dưỡng định kỳ hành tháng, thời điểm tính kể từ ngày 05/3/2018. Chị Nguyễn Hồng T có quyền thăm, chăm sóc con chung, không ai được phép cản trở.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự biết theo qui định của pháp luật.
Ngày 23/4/2018 Chị Nguyễn Hồng T kháng cáo yêu cầu được nuôi một cháu tên Trần Nguyễn Hải C sinh ngày 24/6/2016.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Tại phiên tòa phúc thẩm chị T vẫn bảo lưu nội dung kháng cáo, yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Trần Nguyễn Hải C. Căn cứ kháng cáo chị T cho rằng cháu C hiện dưới 36 tháng tuổi, lúc làm đơn ly hôn chị không biết là con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ nuôi, sau khi biết được quy định này nên chị xin được trực tiếp nuôi con.
Luật sư bảo vệ cho nguyên đơn cho rằng chị T hiện đã có việc làm, khả năng thu nhập của chị T bằng 6.500.000 đồng/tháng nên có điều kiện vật chất để nuôi con và theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì người mẹ được trực tiếp nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của chị T, sửa án sơ thẩm giao cháu Trần Nguyễn Hải C cho chị T trực tiếp chăm sóc giáo dục.
. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát: Án sơ thẩm giao con chung cho anh Ngoàn trực tiếp nuôi dạy là xuất phát từ tự nguyên của chị T. Nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh N và chị T thống nhất ly hôn, tại phiên tòa sơ thẩm chị T tự nguyện giao hai con cho Anh N trực tiếp nuôi dạy, giải thích về việc này chị T cho rằng trước khi ra toà sơ thẩm chị và Anh N đã thoả thuận là chị giao con cho Anh N nuôi, ngươc lại chị không cấp dưỡng nuôi con và không đòi ba lượng vàng 24k do mẹ Anh N mượn của vợ chồng trước khi gia đình phát sinh mâu thuẫn. Với nội dung này thể hiện rõ chị T giao con cho Anh N nuôi là có điều kiện, không đúng như trình bày tại đơn kháng cáo là chị không biết pháp luật quy định người mẹ có đặc quyền được nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi ly hôn.
Mặt khác, tại thời điểm phát sinh mẫu thuẫn chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống, lúc này cháu Trần Nguyễn Hải C được 13 tháng tuổi, đến nay là qua một năm Anh Ntrực tiếp nuôi dưỡng cháu C đã thể hiện Anh N có khả năng chăm sóc cháu trong thời gian cháu dưới 36 tháng tuổi và hiện tại cũng không có căn cứ xác định tình trạng của cháu bị hạn chế trong phát triển về thể chất, tinh thần, nên tiếp tục duy trì cuộc sống của cháu C như hiện nay để đảm bảo ổn định cho cháu.
Từ những lý do trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu C của chị T.
. Án phí hôn nhân gia đình, án phí phúc thẩm chị T phải chịu theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Chị Nguyễn Hồng T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 66/2018/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Về con chung: Giao hai con chung gồm cháu Trần Nguyễn Linh P sinh ngày 05/11/2010 và Trần Nguyễn Hải C sinh ngày 24/6/2016 cho anh Trần Minh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Nguyễn Hồng T cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 650.000 đồng/ cháu, phương thức cấp dưỡng định kỳ hành tháng, thời điểm tính kể từ ngày 05/3/2018.
Chị Nguyễn Hồng T có quyền thăm, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Nguyễn Linh P và Trần Nguyễn Hải C, không ai được phép cản trở.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 05/3/2018 chị T đã dự nộp 300.000 đồng lai thu số 0009608 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ được chuyển thu.
Án phí cấp dưỡng nuôi con chị T phải chịu 300.000 đồng. (Chưa nộp)
Án phí phúc thẩm chị T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 23/4/2018 chị T đã dự nộp 300.000 đồng lai thu số 0009776 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Văn Yên |