vanban.org

Bản án 24/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "VAY"
  • Tòa quyết gì? và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN,
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/DS-ST
Ngày 28/9/2018
V/v tranh chấp hợp
đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Nam;

2. Bà Vũ Thị Nữ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân,

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2018/TLST-DS ngày 06 tháng

4 năm 2018, về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 39/2018/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2018, Quyết

định hoãn phiên tòa số 48/2018/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2018, giữa các

đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)

Địa chỉ: Lầu 02, số 296, đường Phan Xích Long, phường 7, quận Phú

Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp:

- Ông Nguyễn Hữu T; (Có đơn xin vắng mặt)

- Ông Phạm Nguyễn Quốc T; (Vắng mặt)

- Ông Phạm Đình H; (Vắng mặt)

Cộng tác viên Công ty TNHH Quản lý tài sản Ngân hàng TMCP Việt

Nam Thịnh Vượng (Văn bản ủy quyền số 18485/2018/UQ-VPB ngày 07/8/2018).

Bị đơn: Ông Hoàng Hữu T, sinh năm: 1991

Địa chỉ: Khu phố 7, thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình giải

quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu Trực trình bày:

Ngày 16/6/2016, ông Hoàng Hữu T và Ngân hàng TMCP Việt Nam

Thịnh Vượng có ký kết hợp đồng tín dụng để mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn với số tiền là 72.000.000 đồng, thời hạn vay tối đa là 48 tháng, lãi suất cho vay trong hạn là 21,9% (lãi suất cho vay tối đa các bên thỏa thuận là 35%), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ngoài ra, ông T còn ký 02 hợp đồng thẻ tín dụng với Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng với hạn mức là 30.000.000 đồng vào ngày 24/9/2015 và hạn mức 13.000.000 đồng vào ngày 11/12/2014.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và

trả nợ gốc đến hạn cho ngân hàng, mặc dù đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông T vẫn không thực hiện. Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, ông T có thực hiện một phần nghĩa vụ của mình với số tiền là 70.000.000 đồng nên ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Hoàng Hữu ToàTn phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng số tiền là 60.301.953 đồng bao gồm nợ gốc là nợ lãi chưa thanh toán, trong đó nợ gốc là 38.450.262 đồng, nợ lãi là 21.851.331 đồng.

- Bị đơn ông Hoàng Hữu T: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ

lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác nhưng không đến Tòa án để làm việc, tham dự phiên tòa cũng như cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ

luật tố tụng dân sự; Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là phù hợp quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng phiên tòa sơ thẩm;

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định ông Hoàng Hữu Toàn và Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng có ký kết các hợp đồng tín dụng và dịch vụ mở thẻ tín dụng với số tiền như nguyên đơn trình bày, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi đến hạn nên ngân hàng có quyền khởi kiện buộc ông T phải trả toàn bộ nợ gốc và nợ lãi chưa thanh toán. Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy đủ căn cứ để xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp và cần được chấp nhận. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP

Việt Nam Thịnh Vượng, buộc ông Hoàng Hữu T phải trả số tiền là 60.301.953

đồng cho Ngân hàng. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra

tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải

quyết buộc ông Hoàng Hữu T phải trả cho ngân hàng số tiền là là 60.301.953

đồng bao gồm nợ gốc là nợ lãi chưa thanh toán, trong đó nợ gốc là 38.450.262

đồng, nợ lãi là 21.851.331 đồng, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh

chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ

luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy

định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Hoàng Hữu T là bị đơn trong vụ án có đăng ký nhân khẩu thường trú

tại khu phố 7, thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận nên thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân theo quy định tại

khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Ngày 16/6/2016, ông Hoàng Hữu T và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh

Vượng có thực hiện thủ tục đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi

nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn với số tiền là 72.000.000 đồng, lãi suất

tối đa là 35%/năm, thời hạn vay là 48 tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi

suất trong hạn. Ngày 20/6/2016, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tiến

hành giải ngân và chuyển vào tài khoản của ông Hoàng Hữu T số tiền là

72.000.000 đồng.

Theo quy định tại Điều 6 Bản Điều khoản và điều kiện về sử dụng tài

khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và vay tiêu dùng cá nhân, Ngân hàng TMCP Việt

Nam Thịnh Vượng có quyền thu hồi nợ trước hạn trong hợp khách hàng vi phạm

bất kỳ nghĩa vụ nào đối với ngân hàng theo hợp đồng đã thỏa thuận. Nguyên đơn

khẳng định rằng ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và kỳ trả nợ gốc kể từ ngày

24/3/2017 theo bảng kê thanh toán nên nguyên đơn có quyền khởi kiện và áp

dụng mức lãi suất quá hạn.

Ngày 11/12/2014, ông T có lập giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử

dụng thẻ tín dụng quốc tế (dành cho khách hàng cá nhân) gửi Ngân hàng TMCP

Việt Nam Thịnh Vượng để đề nghị mở thẻ và cấp hạn mức tín dụng tối đa với số

tiền là 10.000.000 đồng, đề nghị này của ông T được ngân hàng chấp nhận. Ngày

03/01/2015, ông T đã rút toàn bộ số tiền 10.000.000 đồng (trong đó 9.725.000

đồng và 275.000 đồng phí) từ thẻ được cấp. Về lãi suất, theo quy định tại Điều 5

Bản thỏa thuận mở và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử quy định: “Lãi suất cho vay của Vpbank đối với chủ thẻ (khách hàng) thông qua việc phát hành và sử dụng thẻ áp dụng theo biểu lãi suất cho vay do Vpbank quy định tại từng thời kỳ” và đối với loại thẻ này, nên Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng áp dụng mức lãi suất trong hạn là là 35,88%/năm. Ngân hàng xác định ngày 21/3/2018, ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với ngân hàng theo bảng kê thanh toán nên ngân hàng có quyền khởi kiện và áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với dư nợ gốc.

Ngày 18/9/2015, ông T có giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng tín

dụng quốc tế (dành cho khách hàng cá nhân) gửi đến Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng để đề nghị cấp thẻ tín dụng tín chấp với hạn mức đề nghị là 30.000.000 đồng, đề nghị này được ngân hàng chấp nhận và phát hành thẻ. Ngày 26/9/2015, ông T đã rút số tiền là 15.000.000 đồng từ thẻ tín dụng được cấp. Nguyên đơn xác định ngày 21/5/2017, ông Toàn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với ngân hàng theo bảng kê thanh toán nên ngân hàng có quyền khởi kiện và áp mức lãi suất quá hạn đối với khoản nợ gốc chưa thành toán.

Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án

nhưng không thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự (Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó), do vậy, Tòa án áp dụng khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự (Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc) xác định Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng có quyền thu hồi nợ đối với các khoản vay này của ông Toàn tại ngân hàng.

Việc áp dụng mức lãi suất và thời gian tính lãi suất của ngân hàng đối với

các khoản vay của ông T tại ngân hàng là phù hợp với các quy định tại Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu khởi kiện

của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ và cần được chấp nhận, do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông Hoàng Hữu T phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147

và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 90, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh

Vượng, buộc ông Hoàng Hữu T phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh

Vượng số tiền 60.301.953 đồng bao gồm nợ gốc là nợ lãi chưa thanh toán, trong

đó nợ gốc là 38.450.262 đồng nợ lãi là 21.851.331 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo sau ngày 28/9/2018, ông Hoàng Hữu T còn phải tiếp

tục chịu khoản tiền lãi đối với nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các

bên đã thỏa thuận tại Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi

nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn lập ngày 16/6/2016; Giấy đề nghị phát

hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (dành cho khách hàng cá

nhân) lập ngày 18/9/2015; Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín

dụng quốc tế (dành cho khách hàng cá nhân) lập ngày 11/12/2014 giữa ông

Hoàng Hữu Toàn và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.

2. Về án phí:

Ông Hoàng Hữu T phải chịu 3.015.100 đồng án phí dân sự sơ thẩm, Ngân

hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng được nhận lại số tiền 3.398.000 đồng tạm

ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân

theo Biên lai số 0016686 ngày 06/4/2018.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong

thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9

Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại

Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ