vanban.org

Bản án 24/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/DS-ST
Ngày: 15/11/2018
Về tranh chấp: "Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Thuận

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Hùng Cường

Bà Nguyễn Thị Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trâm - Cán bộ Tòa án nhân dân

huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên

Tòa: Ông Trần Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh

mở phiên tòa xét xử công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự sơ thẩm thụ

lý số: 23/2018/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2018 về "Tranh chấp hợp đồng tín

dụng" theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 32/2018/QĐXX-ST ngày 12 tháng 10

năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2018/QĐST-DS ngày 29 tháng 10

năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A

Địa chỉ: phường 5, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Như P – Giám đốc phòng giao dịch V

– Chi nhánh Khánh Hòa (Theo quyết định số 4908/TCQĐ-PC.12 ngày 13/9/2012).

Ông P có mặt

2. Bị đơn: Ông Phan Trung V

Địa chỉ: xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phan Ngọc T

Địa chỉ: xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 02/4/2018, bản tự khai, tài liệu chứng cứ cung

cấp cho Tòa án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của ngân hàng thương Mại

cổ phần A; ông Lê Như P trình bày:

Ngày 26/12/2013 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần A và ông Phan Trung

V có ký kết hợp đồng tín dụng số VPC.CN.01.111213 với số tiền vay gốc ban đầu là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); mục đích vay: mua sắm vật dụng gia đình; thời hạn vay: 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 26/12/2018; lãi suất: lãi suất trong hạn là 12%/năm, từ ngày 26/9/2014 trở đi, lãi suất thay đổi 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Tài sản đảm bảo cho khoản vay nói trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 7xx tờ bản đồ số xx tại xã Diên An, huyện Diên Khánh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH013xx do Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp ngày 19/12/2013 cho ông Phan Ngọc T, theo hợp đồng thế chấp số VPC.BĐCN.01.111213 ngày 25/12/2013, được công chứng tại Phòng công chứng số 1 tỉnh Khánh Hòa và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Diên Khánh ngày 25/12/2013. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, thời gian đầu ông V thực hiện việc trả nợ đầy đủ. Sau đó, ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng nêu trên mặc dù Ngân hàng đã nhiều nhắc nhở và tạo điều kiện cho ông Việt trả nợ. Tính đến ngày 11/01/2018 ông Phan Trung V còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 27.514.505 đồng (trong đó nợ gốc là 23.604.000 đồng, lãi trong hạn là 3.773.183 đồng, lãi quá hạn 137.322 đồng)

Nay để đảm bảo cho việc thu hồi vốn, Ngân hàng thương mại cổ phần A

yêu cầu ông Phan Trung V thanh toán cho Ngân hàng một lần dứt điểm hết số tiền nợ tính đến ngày 15/11/2018 là 31.497.251 đồng (trong đó nợ gốc là 23.604.000 đồng, nợ lãi: gồm nợ lãi trong hạn là 5.937.825 đồng, lãi quá hạn là 1.955.426 đồng) và các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 16/11/2018 theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký kết nêu trên cho đến khi ông V trả hết nợ cho Ngân hàng.

Sau khi, ông Phan Trung V thanh toán xong các khoản nợ vay nêu trên cho

Ngân hàng thương mại cổ phần A thì Ngân hàng sẽ trả lại cho ông Phan Ngọc T bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH013xx do Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp ngày 19/12/2013 mang tên ông Phan Ngọc T theo hợp đồng thế chấp số VPC.BĐCN.01.111213 ngày 25/12/2013.

Nếu ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thì Ngân hàng có

quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên, bán tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 7xx tờ bản đồ số xx, diện tích 2.796m2 tại xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH013xx do Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp ngày 19/12/2013 cho ông Phan Ngọc T để đảm bảo thu hồi toàn bộ nợ theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Bị đơn Phan Trung V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn

không đến Tòa, vì vậy Tòa án đã thực hiện các thủ tục theo quy định để giải quyết vắng mặt bị đơn.

* Tại bản tự khai ngày 14/9/2018 và biên bản hòa giải ngày 14/9/2018,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Ngọc T trình bày:

Ông thống nhất theo lời trình bày của Ngân hàng thương mại cổ phần A về

nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng và con trai ông là Phan

Trung V. Ông xác nhận con ông còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền

nợ gốc và lãi như đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày, ông thống nhất,

đồng ý con trai ông là Phan Trung V phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ nêu trên

theo phương thức như sau: chậm nhất đến ngày 20/9/2018, con ông sẽ trả hết một

lần dứt điểm số tiền gốc, lãi tính đến ngày 14/9/2018 và các khoản lãi phát sinh kể

từ 15/9/2018 theo thỏa thuận của hợp đồng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Sau khi, ông Phan Trung V thanh toán xong các khoản nợ vay nêu trên cho

Ngân hàng thương mại cổ phần A thì ông yêu cầu Ngân hàng trả lại cho ông bản

chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH013xx do Ủy ban nhân dân huyện

Diên Khánh cấp ngày 19/12/2013 mang tên ông là Phan Ngọc T, theo hợp đồng thế

chấp số VPC.BĐCN.01.111213 ngày 25/12/2013.

Nếu ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thì Ngân hàng có

quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên, bán tài sản đã thế chấp là quyền

sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 7xx tờ bản đồ số xx, diện

tích 2.796m2 tại xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa theo giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất số CH013xx do Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp ngày

19/12/2013 cho ông để đảm bảo thu hồi toàn bộ nợ theo quy định pháp luật.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh: Đề nghị

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án

phí Dân sự sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào

kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về thủ tục: Bị đơn Phan Trung V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan Phan Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên

toà lần 2 không có lý do; căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông V, ông T.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần

A yêu cầu ông Phan Trung V phải trả nợ vay do vi phạm hợp đồng tín dụng và yêu

cầu xử lý tài sản thế chấp để trả nợ. Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và

điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp: Theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ cũng như lời

trình bày của người đại diện cho nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A và bị

đơn ông Phan Trung V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Ngọc T xác lập

hợp đồng tín dụng vay và thế chấp tài sản là có thật. Thể hiện tại hợp đồng tín dụng số

VPC.CN.01.111213 ngày 26/12/2013 và hợp đồng thế chấp tài sản số

VPC.BCCN.01.111213 ngày 25/12/2013, theo đó Ngân hàng TMCP A cho ông

Phan Trung V vay 100.000.000 đồng, ông Phan Ngọc T thế chấp quyền sử dụng

đất là thửa đất số 7xx tờ bản đồ số xx, diện tích 2.796m2 tại xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH013xx do Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp ngày 19/12/2013 để đảm bảo cho khoản tiền vay nêu trên.

Giao dịch giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao

dịch không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, việc thế chấp quyền sử dụng đất có công chứng theo quy định nên hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Ông Phan Trung V đã trả được một phần nợ. Tuy nhiên, sau đó ông V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo quy định tại Điều 3 của hợp đồng. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu căn cứ Điều 17 của hợp đồng khởi kiện yêu cầu ông Phan Trung V trả số tiền gốc và lãi là phù hợp với các Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Ngoài ra, căn cứ Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi

suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được lựa chọn từ quyết định Giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16/5/2013 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao thì ông Phan Trung V còn phải tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết nợ gốc.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu khởi kiện

của Ngân hàng thương mại cổ phần A như sau:

Việc vay tiền giữa Ngân hàng thương mại cổ phần A và ông Phan Trung V,

việc thế chấp tài sản đảm bảo của ông Phan Ngọc T và được các bên thừa nhận nên đây là giao dịch hợp pháp. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, lời khai của các đương sự, nên nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu ông Phan Trung V phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày 15/11/2018 là 31.497.251 đồng (trong đó nợ gốc là 23.604.000 đồng, nợ lãi: gồm nợ lãi trong hạn là 5.937.825 đồng, lãi quá hạn là 1.955.426 đồng) và các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 16/11/2018 theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký kết nêu trên cho đến khi ông V trả hết nợ cho Ngân hàng là phù hợp. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần A.

Nếu ông Phan Trung V không thanh toán nợ theo quyết định thì Ngân hàng

thương mại cổ phần A có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên, bán tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 7xx tờ bản đồ số xx, diện tích 2.796m2 tại xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH013xx do Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp ngày 19/12/2013 cho ông Phan Ngọc T để đảm bảo thu hồi toàn bộ nợ theo quy định pháp luật.

Án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Phan

Trung V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần A.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

Điều 147, Điều 227 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 117; Điều 299, Điều 323 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Phan Trung Vi phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á

Châu số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số VPC.CN.01.111213 ngày

26/12/2013 là 31.497.251 đồng (trong đó nợ gốc là 23.604.000 đồng, nợ lãi: gồm

nợ lãi trong hạn là 5.937.825 đồng, lãi quá hạn là 1.955.426 đồng) và các khoản lãi

phát sinh kể từ ngày 16/11/2018 theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký kết

nêu trên cho đến khi ông V trả hết nợ cho Ngân hàng.

2. Sau khi ông Phan Trung V thanh toán hết các khoản nợ tiền gốc và tiền

lãi nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần A – phòng giao dịch V trả giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 0228xx và số vào sổ cấp CH013xx do Ủy ban

nhân dân huyện Diên Khánh, Khánh Hòa cấp ngày 19 tháng 12 năm 2013 cho ông

Phan Ngọc Tr.

Trường hợp ông Phan Trung V không trả được các khoản nợ nói trên cho

Ngân hàng thương mại cổ phần A thì Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu

chi cục thi hành án Dân sự huyện Diên Khánh, Khánh Hòa xử lý phần tài sản thế

chấp là thửa đất số 7xx tờ bản đồ số xx, diện tích 2.796m2 tại xã Diên An, huyện

Diên Khánh, Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH013xx do

Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp ngày 19/12/2013 cho ông Phan Ngọc T để

thu hồi nợ.

3. Án phí: Ông Phan Trung V phải chịu 1.574.862 đồng (một triệu năm trăm

bảy mươi bốn nghìn tám trăm sáu mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại

cho Ngân hàng Thương mại cổ phần 687.000 đồng (Sáu trăm tám mươi bảy nghìn

đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2016/0018713 ngày

24/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ

liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành, theo quy định

tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi

hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều ,

và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định

tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ