- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công Q phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Công Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 239/2023/HS-ST Ngày 14-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2.Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 227/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 366/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Công Q, sinh năm 1994 tại tỉnh Thanh Hóa; thƣờ ng trú : Khu phố N, phƣờng Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cƣ trú: 1002 đƣờng B, phƣờng A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn : Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tô ̣c: Kinh; giới tính: Nam; con ông Trần Công C, sinh năm 1968 và bà Dƣ Thị H, sinh năm 1969; bị cáo có 03 chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2002; vợ tên Hồ Thị L, sinh năm 1995; có 01 con, sinh ngày 06/8/2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Ông Hoàng Chu C1, sinh năm 1985 (đã chết);
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Chu Văn C2, sinh năm1985. Địa chỉ: Xóm F, thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn dân sự: Bà Dƣơng Thị Thu H1, sinh năm 1984. Địa chỉ thƣờng trú: Xóm C, thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng. Địa chỉ tạm trú: Số H đƣờng B, phƣờng A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Huy B, sinh năm 1981;
2/ Ông Lê Thành L1, sinh năm 1983;
3/ Ông Trần Quốc Q1, sinh năm 1993.
Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trần Công Q có Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 770177001941 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/3/2022, có giá trị đến ngày 25/3/2027. Quyền lái xe ô tô tải biển số 34H-029.09 chở hàng cho chị Dƣơng Thị Thu H1 - sinh năm 1984, HKTT: Xóm C, Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, tạm trú: Số H đƣờng B, phƣờng A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 03/01/2023, chị Dƣơng Thị Thu H1 giao cho Trần Công Q điều khiển xe ô tô tải, biển số 34H-029.09 chở hàng từ phƣờng A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đi giao cho khách tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 21 giờ 30 cùng ngày thì giao hàng xong, Quyền điều khiển xe ô tô tải về lại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Q điều khiển xe ô tô tải lƣu thông trên đƣờng M - T, hƣớng từ đƣờng Q đi hƣớng khu du lịch T với tốc độ khoảng 54km/h. Khi Trần Công Q điều khiển xe ô tô lƣu thông đến đoạn đƣờng thuộc khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, lúc này Q đang điều khiển xe lƣu thông ở làn xe ô tô ở giữa thì nhìn thấy phía trƣớc (cùng làn đƣờng) có 01 xe ô tô đầu kéo đang lƣu thông; ở làn đƣờng xe ô tô bên trái (sát dãy phân cách) có 01 xe ô tô tải cầu và 01 xe du lịch đang lƣu thông; làn đƣờng xe mô tô bên phải thì vắng xe. Do muốn chạy vƣợt qua xe ô tô đầu kéo đang lƣu thông phía trƣớc, Quyền bật đèn tín hiệu xi - nhan phải rồi điều khiển xe ô tô tải biển số 34H-029.09 chuyển hƣớng qua phải chạy vào làn đƣờng xe mô tô. Khi Q điểu khiển xe ô tô đi đƣợc khoảng 10m thì bánh xe trƣớc bên phải của xe ô tô va chạm vào ốp nhựa bên trái đuôi xe mô tô, biển số 47E1-459.45 do anh Hoàng Chu C1 - sinh năm 1986, HKTT: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, điều khiển lƣu thông cùng chiều bên hông phải phía trƣớc, dẫn đến tai nạn giao thông. Sau va chạm, Q điều khiển xe ô tô chạy lên phía trƣớc cách hiện trƣờng khoảng 90m đỗ vào lề phải rồi quay lại hiện trƣờng, Quyền thấy anh C1 bất tỉnh. Do đƣờng có nhiều xe tải lƣu thông, ngƣời dân kêu đƣa nạn nhân C1 đi cấp cứu nên Q đƣa anh C1 và dẫn xe mô tô biển số 47E1-459.45 lên lề phải và gọi xe cấp cứu.
Khoảng 10 phút sau, Công an phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng phân công lực lƣợng dân phòng là anh Lê Thành L1 (sinh năm 1983, HKTT: Số G khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng), Trần Quốc Q1 (sinh năm 1993, HKTT: E khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng) điều khiển xe ô tô bán tải đến hiện trƣờng và đƣa nạn nhân Chấn để chở đi cấp cứu. Khi đã đƣa anh C1 lên thùng xe định đƣa đi cấp cứu, anh L1 và Q1 phát hiện nạn nhân C1 đã chết nên cùng Q đƣa nạn nhân C1 đặt lại xuống đƣờng.
Hậu quả: Anh Hoàng Chu C1 chết tại hiện trƣờng, 01 xe mô tô biển số 47E1-459.45 bị hƣ hỏng.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trƣờng ngày 03/01/2023, thể hiện:
1/ Hiện trƣờng là đoạn đƣờng thẳng, bằng phẳng, khô ráo, không có chƣớng ngại vật gây cản trở, thảm nhựa cứng. Đƣờng M - T có dãy phân cách cứng chia 02 phần đƣờng xe chạy. Phần đƣờng xảy ra tai nạn có hƣớng từ đƣờng Q1K về đƣờng Q1A rộng 11,60m, có 02 làn đƣờng xe ô tô đƣợc phân biệt bằng vạch sơn đứt quảng và 01 làn đƣờng xe mô tô phân biệt với làn xe ô tô bằng vạch sơn liền. Chiều rộng làn đƣờng từ dãy phân cách cứng vào lề phải lần lƣợt là 4,20m – 3,80m – 3,60m. 2/ Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, tang vật, dấu vết:
(1) Vết phanh xe ô tô, biển số 34H-029.09.
(2) Vết cày xe mô tô, biển số 47E1-459.45.
(3) Nạn nhân.
(4a) Xe mô tô, biển số 47E1-459.45
(4b) Gƣơng chiếu hậu xe mô tô (phải), biển số 47E1-459.45.
(5) Xe ô tô tải, biển số 34H-029.09.
(6) Trụ điện T14/5.
3/ Xác định lề chuẩn, điểm mốc:
- Lấy mép bên phải lề đƣờng M – Tân Vạn hƣớng từ đƣờng Q1K về đƣờng Q1A làm lề chuẩn.
- Lấy trụ điện số T14/5 (6) làm điểm mốc.
4/ Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, tang vật, dấu vết:
- Vết phanh xe ô tô, biển số 34H-029.09, ký hiệu (1): Có dạng đƣờng thẳng liên tục, dài 8,50m – rộng 0,50m, có chiều hƣớng từ đƣờng Q1K về đƣờng Q1A. Đầu và đuôi vết phanh cách lề chuẩn 1,00m. Đầu vết phanh cách trụ điện (5) là 12,30m.
- Vết cày xe mô tô, biển số 47E1-459.45, ký hiệu (2): Có dạng đƣờng cong đứt quảng hƣớng vào lề phải, chiều hƣớng từ đƣờng Q1K về đƣờng Q1A. Đầu vết cày cách lề chuẩn 0,50m – cách đuôi vết phanh (1) là 4,70m. Đuôi vết cày cách lề chuẩn 0,70m trùng với đầu gác chân trƣớc bên trái xe mô tô (2) – cách gƣơng chiếu hậu xe mô tô (4b) là 1,20m.
- Nạn nhân, ký hiệu (3): Là nam giới đã chết, tƣ thế nằm ngửa, đầu cách lề chuẩn 1,00m – cách đầu vết cày (2) là 13,10m. Chân trái cách lề chuẩn 2,00m. Chân phải cách lề chuẩn 1,50m.
- Xe mô tô, biển số 47E1-459.45, ký hiệu (4a): Ngã bên trái, đầu xe hƣớng về đƣờng Q1A, đuôi xe hƣớng đƣờng Q1K. Trục bánh xe trƣớc cách lề chuẩn 0,50m – cách gƣơng chiếu hậu (4b) là 0,60m. Trục bánh xe sau cách lề chuẩn 1,00m – cách chân phải nạn nhân (3) là 3,60m.
- Gƣơng chiếu hậu, ký hiệu (4b): Cách lề chuẩn 0,10m – cách trục bánh xe trƣớc xe mô tô (4a) là 0,60m.
- Xe ô tô, biển số 34H-029.09, ký hiệu (5): Đầu xe hƣớng về đƣờng Q1A, đuôi xe hƣớng đƣờng Q1K. Trục bánh xe trƣớc bên phải và trục bánh xe sau bên phải cách lề chuẩn 0,20m. Trục bánh xe sau bên phải cách trục bánh xe trƣớc xe mô tô (4a) là 93,00m.
Các kết luận giám định:
- Kết luận giám định pháp y tử thi số 07/GĐPY ngày 06/01/2023 của Phòng KCông an tỉnh B về nguyên nhân tử vong của Hoàng Chu C1, xác định:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Bầm tụ máu dƣới da và trong cơ vùng ngực, bụng.
+ Gãy 1/3 giữa xƣơng ức.
+ Gãy xƣơng sƣờn bên phải, trái.
+ Hai phổi: Dập rải rác phổi, rốn phổi.
+ Tim: Rách bao tim, dập rách mặt trƣớc cuống tim.
+ Máu khoang ngực hai bên chứa khoảng 1500ml máu lỏng.
+ Gan: Dập vỡ mặt trƣớc, sau thùy phải.
+ Dập đứt bó mạch thần kinh chủ bụng.
+ Đứt rời cột sống lƣng L1, L2.
+ Máu ổ bụng khoảng 1000ml máu lỏng.
2. Nguyên nhân chết: Do đa chấn thƣơng.
- Kết luận giám định số 47/KL-KTHS(CH) ngày 19/01/2023 của Phòng KCông an tỉnh B về dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết và vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đƣờng giữa xe mô tô, biển số 47E1-459.45 với xe ô tô tải, biển số 34H-029.09, xác định:
1. Dấu vết va chạm giữa hai phƣơng tiện là:
- Dấu vết trƣợt xƣớc cao su, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn) ở mặt ngoài lốp xe và vành bánh trƣớc bên phải xe ô tô tải, biển số 34H-029.09, có chiều hƣớng ngƣợc chiều quay tiến bánh xe (ảnh 3,5) phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc sơn màu đỏ, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài ốp nhựa bên trái đuôi xe, trƣợt xƣớc cao su ở mặt ngoài bên trái tay nắm sau yên xe mô tô, biển số 47E1-459.45, có chiều hƣớng từ sau về trƣớc, từ trên xuống dƣới (ảnh 4,6).
- Dấu vết trƣợt xƣớc, bám dính chất màu trắng (dạng nhựa) ở mặt trƣớc đầu thanh cản hông bên phải xe ô tô tải, biển số 34H-029.09, có chiều hƣớng từ trƣớc ra sau (ảnh 7) phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc, vỡ khuyết nhựa màu trắng ở mặt ngoài ốp nhựa xi nhan sau bên trái xe mô tô, biển số 47E1-459.45, có chiều hƣớng từ sau về trƣớc (ảnh 8).
2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai phƣơng tiện: Phần bánh trƣớc bên phải xe ô tô tải, biển số 34H-029.09 va chạm vào phần phía sau bên trái xe mô tô, biển số 47E1-459.45 theo hƣớng từ sau về trƣớc (nhƣ mục 1, phần V) làm xe mô tô đổ ngã va chạm với mặt đƣờng, tạo nên dấu vết trên hai phƣơng tiện.
3. Vị trí va chạm giữa hai phƣơng tiện chiếu xuống mặt đƣờng là: Khu vực phía trƣớc đầu vết cày số (2) trên Sơ đồ hiện trƣờng.
- Kết luận giám định số 07/KL-KTHS(SCKT) ngày 17/01/2023 của Phòng KCông an tỉnh B về hệ thống phanh, hệ thống lái của xe ô tô tải biển số 34H-029.09, nhƣ sau:
Tại thời điểm giám định xe ô tô tải mang biển số 34H-029.09, xác định:
+ Hệ thống lái: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hƣ hỏng do sự cố kỹ thuật.
+ Hệ thống phanh: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hƣ hỏng do sự cố kỹ thuật.
- Kết luận giám định số 1389/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phân Viện KHHS tại thành phố Hồ Chí Minh về nồng độ cồn và các chất ma túy trong máu của nạn nhân Hoàng Chu C1, xác định: Mẫu máu đựng trong 4 ống nhựa đƣợc niêm phong gửi đến giám định không tìm thấy thành phần E, không tìm thấy thành phần các chất ma túy theo Nghị định theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 8 năm 2022.
- Kết quả đo nồng độ cồn trong máu của tài xế Trần Công Q do Phòng C3Công an tỉnh B thực hiện lúc 02 giờ 08 phút ngày 04/01/2023, kết quả nồng độ cồn là 0,000 mg/L.
- Kết quả xét nghiệm ma túy trong nƣớc tiểu của tài xế Trần Công Q do Bệnh viện Q2 thực hiện ngày 04/01/2023, kết quả Âm tính.
- Bị hại Hoàng Chu C1 chƣa có Giấy phép lái xe mô tô theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Bà Dƣơng Thị Thu H1 là chủ xe ô tô tải biển số 34H-02909 và bị cáo Trần Công Q đã bồi thƣờng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho đại diện gia đình bị hại số tiền 204.000.000 (hai trăm lẻ bốn triệu) đồng. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu bồi thƣờng gì khác.
* Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô tải, biển số 34H-029.09 và xe mô tô, biển số 47E1-459.45 bị hƣ hỏng do tai nạn. Bà H1 và ông C2 - ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý nhận xe về tự sữa chữa, không yêu cầu bồi thƣờng nên đã trả lại xe trên cho bà H1 và ông C2.
Quá trình điều tra, bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định kể trên.
Tại Cáo trạng số 241/CT-VKS-DA ngày 03 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Công Qvề tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại điểm a khoản1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Trách nhiệm dân sự: Chủ xe ô tô tải biển số 34H-02909 là bà Dƣơng Thị Thu H1 và bị cáo đã bồi thƣờng xong, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về chứng cứ xác định có tội: Vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 03/01/2023, tại đƣờng M -T, hƣớng từ đƣờng Q1K đi khu D, đoạn đƣờng thuộc khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Trần Công Q điều khiển xe ô tô tải biển số 34H-029.09 chuyển từ làn đƣờng xe ô tô sang làn đƣờng xe mô tô để định vƣợt xe ô tô cùng chiều. Sau khi chuyển hƣớng đang lƣu thông trên làn đƣờng xe mô tô, do không chú ý quan sát nên đã đụng vào xe mô tô biển số 47E1-45945 do anh Hoàng Chu C1 điều khiển gây tai nạn. Hậu quả anh Hoàng Chu Chấn tử v. Bị cáo Trần Công Q có hành vi điều khiển xe ô tô sang làn đƣờng dành cho xe mô tô trong điều kiện làn đƣờng xe mô tô phân biệt với làn xe ô tô bằng vạch sơn liền, là hành vi tham gia giao thông đi không đúng làn đƣờng quy định, thiếu quan sát gây tai nạn, vi phạm vào khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đƣờng bộ, gây ra hậu quả làm chết một ngƣời. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 241/CT - VKS - DA ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là lỗi vô ý nhƣng nghiêm trọng đã xâm phạm an toàn công cộng, ảnh hƣởng đến hoạt động bình thƣờng của các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, gây nguy hiểm đến tính mạng của ngƣời tham gia giao thông. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thƣờng khắc phục hậu quả, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.
Trách nhiệm dân sự: Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụán đã thỏa thuận giải quyết xong, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo là phù hợp tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có địa chỉ nơi cƣ trú rõ ràng, bị cáo có con mới sinh đƣợc 08 ngày tuổi nên hiện tại bị cáo đƣợc xem là lao động chính trong gia đình. Với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại của bị cáo nhận thấy cần tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo và lao động nuôi vợ và con mới sinh. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú để bị cáo thấy đƣợc sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm lao động, cải tạo trở thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội. Điều đó cũng không ảnh hƣởng đến tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phƣơng, đồng thời cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”, xét thấy mức hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung. Cần tuyên trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe hạng C, số 770177001941 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/3/2022 cho Trần Công Q.
Đối với xe ô tô tải, biển số 34H-029.09 bị hƣ hỏng do tai nạn, bà Dƣơng Thị Thu H1 là chủ xe đồng ý nhận xe về tự sửa chữa, không yêu cầu bồi thƣờng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại xe ô tô cho bà Dƣơng Thị Thu H1 là đúng quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô, biển số 47E1-459.45 bị hƣ hỏng do tai nạn, ông Chu Văn C2 là ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý nhận xe về tự sửa chữa, không yêu cầu bồi thƣờng.Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại xe mô tô cho ông Chu Văn C2là đúng quy định của pháp luật.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Công Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Công Q 20 (hai mƣơi) tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 40 (bốn mƣơi) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Công Q cho Ủy ban nhân dân Phƣờng A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàugiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo Trần Công Q.
2. Trách nhiệm dân sự: Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo, bị đơn dân sự đã thỏa thuận giải quyết xong, không còn yêu cầu gì khác nên không xem xét.
3. Trả lại cho bị cáo Trần Công Q Giấy phép lái xe hạng C, số 770177001941 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/3/2022 (Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/8/2023).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Công Q phải nộp 200.000 (hai trăm nghin) đồng án phí hình
̀ sự sơ thẩm.
5. Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại và bị đơn dân sự đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - VKSND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Công an thành phố Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND nơi cƣ trú của bị cáo(01); - Ngƣời tham gia tố tụng (06); - Lƣu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Thanh |