vanban.org

Bản án 239/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đăng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đăng T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/02/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ: Một phong bì niêm phong chứa mẫu ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đăng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2023/HS-ST
Ngày: 28-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Luận

Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Những người tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

- Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên VKSND thành phố Thanh Hóa.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử trực tuyến, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 240/2023/TLST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Trịnh Đăng T, sinh năm 1976; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Số 30/230 B, phường H, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Đăng T (đã chết) và bà Ngô Thị Th, sinh năm 1951; Chưa có vợ, con.

Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 08/5/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (Ngày 23/01/2016 chấp hành xong hình phạt tù); Ngày 23/12/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Ngày 02/11/2017 chấp hành xong hình phạt tù); Ngày 18/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (Ngày 15/7/2021 chấp hành xong hình phạt tù).

Nhân thân: Ngày 09/6/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Ngày 14/11/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/5/2016 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/02/2023 đến ngày 14/02/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h15 phút ngày 08/02/2023, tại trước số nhà 30/230 B, phường H, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác Công an thành phố H phối hợp với Công an phường Đ phát hiện Trịnh Đăng T có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ, T lấy trong túi quần bên trái đang mặc ra 03 gói nilong màu hồng, có KT (0,5x1,5)cm, bên trong mỗi gói đều là giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng và tự giác giao nộp cho tổ công tác. T khai nhận đó là ma túy, loại heroine của T đang cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tới và thu giữ tang vật.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, T khai nhận: Khoảng đầu tháng 01 năm 2023, T đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa H, phường Đ, thành phố H gặp và mua của một người đàn ông tên T không biết địa chỉ, lai lịch 03 gói heroine với giá 300.000đ cất giấu để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trịnh Đăng T, Cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ đồ vật gì liên quan đến ma túy.

Tại Kết luận giám định số 708/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng 0,138g, là ma túy, loại Heroine.

Đối với chiếc điện thoại Nokia 106 màu đen thu giữ của Trịnh Đăng T, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại nhưng không phát hiện thông tin, dữ liệu liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nên đã giao lại cho gia đình Trịnh Đăng T quản lý.

Đối với người đã bán ma túy cho Trịnh Đăng T, Tkhai tên T không rõ địa chỉ, lai lịch. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Tại cáo trạng số 188/CT-VKSTP, ngày 08/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố Trịnh Đăng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố bị cáo Trịnh Đăng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo với lý do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trịnh Đăng T thừa nhận: Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên vào khoảng đầu tháng 01 năm 2023, Trịnh Đăng T đã mua 03 góima túy loại heroine của một người nam giới tên T không rõ địa chỉ, lai lịch tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa H, phường Đ, thành phố H với giá 300.000đ rồi mang về cất giấu để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Trịnh Đăng T phạm tội“Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những tệ nạn nguy hiểm cho xã hội, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của nhiều gia đình. Ma túy đã làm kiệt quệ về sức khỏe và tài sản, là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm, gây lan truyền căn bệnh HIV/ADS. Vì hám lời nên bị cáo đã bán ma túy cho các con nghiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước và còn gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã chịu tình tiết định khung hình phạt tái phạm nguy hiểm tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Với tính chất vụ án nghiêm trọng, với nhân thân của bị cáo, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đăng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đăng T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/02/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ: Một phong bì niêm phong chứa mẫu ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Hiện số tang vật và tài sản đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 163/2023/THA ngày 11/5/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa với Công an thành phố Thanh Hóa.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14. Bị cáo Trịnh Đăng T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ