- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 239/2022/HS-ST Ngày: 09-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Võ Hoàng Thu
2/ Bà Nguyễn Thị Nguyên
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, THnh phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, THnh phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2022, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, THnh phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 242/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1970, tại Sài Gòn; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú: 666/62 LTT, phường H, quận T, THnh phố H; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn Văn X (chết); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N (chết); hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ng và 01 người con sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 06/8/2015, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, THnh phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 2336/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về Hnh vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Ngày 10/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, THnh phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp Hnh xong hình phạt tù ngày 09/01/2019, theo Giấy chứng nhận chấp Hnh xong hình phạt tù số 23/GCN ngày 09/01/2019 của Trại giam Thủ Đức (Cục C10); đóng án phí và hình phạt bổ sung ngày 06/5/2016, theo Biên bản xác minh số 2356/CCTHADS ngày 06/9/2022 của Chi cục Thi Hnh án Dân sự huyện Bình Chánh.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 08/6/2022 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh H là người nghiện ma túy. Để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng H bắt đầu mua bán trái phép chất ma túy từ khoảng tháng 02/2022. Nguồn gốc ma túy mà H bán là mua của 01 người đàn ông tên Đ (không rõ lai lịch) khu vực đường LTT thuộc quận T, THnh phố H. Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 08/6/2022, H đang ở nhà thì có một người phụ nữ tên Tr (không rõ lai lịch) gọi vào số điện thoại 093.623.3151 của H hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy đá, H đồng ý và hẹn sẽ giao dịch tại đường Nữ Dân Công thuộc xã A, huyện B. Sau đó, H gọi điện thoại cho Đ đặt mua 1.200.000 đồng ma túy đá, Đ đồng ý và hẹn địa điểm giao dịch tại trước địa chỉ 666/39 LTT, phường B, quận T. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 53R7 – 6182 đến điểm hẹn gặp Đ và mua một gói ma túy với giá 1.200.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, H để ma túy lên trên baga xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô đi giao ma túy cho Tr. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi H đang điều khiển xe đến trước địa chỉ C12/18B C, tổ 2, ấp 3, xã A, huyện B thì bị Công an xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh trong lúc tuần tra nghi vấn kiểm tra bắt quả tang. Công an tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa Nguyễn Thanh H về trụ sở làm việc. Kết quả xét nghiệm cho thấy H dương tính với ma túy.
Căn cứ Kết luận giám định số 3340/KL–KTHS ngày 14/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 bịch nylon thu giữ của Nguyễn Thanh H là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9698 gram, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra Nguyễn Thanh H khai nhận phương thức bán ma túy là khi có người gọi vào số điện thoại của H để hỏi mua ma túy thì H sẽ hẹn địa điểm giao dịch và trực tiếp đi bán ma túy. H đã bán được ma túy cho nhiều người khác nhau (không rõ lai lịch) với giá từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Trước đây, H đã bán ma túy cho Trinh được một lần (không nhớ rõ thời gian, địa điểm, số lượng ma túy).
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:
-
01 gói nylon Hn kín chứa tinh thể rắn không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9698 gram, loại Methamphetamine và 01 tấm giấy màu trắng kích thước 30x30cm.
-
01 xe mô tô biển số 53R7 – 6182, số máy HC09E0589940, số khung: RLHHC09063Y589770; 01 điện thoại di động có ghi chữ Iphone cùng 01 sim mà bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.
Tại Cáo trạng số 211/CT-VKS ngày 08/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, THnh phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh H đã thừa nhận Hnh vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận Hnh vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh H tại tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 47-52, 97-100); phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết quả giám định vật chứng, Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 08/6/2022, bị cáo Nguyễn Thanh H đã có Hnh vi tàng trữ ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9698 gram, loại Methamphetamine (Theo Kết luận giám định số 3340/KL–KTHS ngày 14/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Phố Hồ Chí Minh) với mục đích để bán cho người khác thì bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 16 giờ 15 phút cùng ngày tại trước nhà số C12/18B Nữ Dân Công, tổ 2, ấp 3, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Với những tình tiết được chứng minh tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược được Nhà nước thống nhất quản lý hết sức chặt chẽ, mọi Hnh vi liên quan đến ma túy từng mức độ sẽ bị xử lý hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma tuý sử dụng, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian tương xứng với Hnh vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Bị cáo khai nhận bán ma túy từ khoảng tháng 02/2022 đến ngày bị bắt quả tang, bán cho nhiều người khác nhau không rõ lai lịch với giá từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Tuy nhiên, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo thì không có chứng cứ nào khác chứng minh bị cáo bán ma túy nhiều lần (không lấy được lời khai của người mua ma túy) nên theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì không có cơ sở xử lý bị cáo phạm tội thuộc hai lần trở lên.
Về nhân thân: Ngày 10/3/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về Hnh vi sử dụng ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà sau khi chấp Hnh phạt tù xong bị cáo lại tái nghiện và tiếp tục phạm tội về nhóm tội ma túy. Tuy nhiên, tại phiên tòa viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù là quá nhẹ chưa tương xứng với Hnh vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Do đó, khi lượng hình có mức án nghiêm với bị cáo thì mới có tác dụng răn đe bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với những người bán ma túy cho bị cáo và những người mua ma túy của bị cáo, do tất cả không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.
Đối với các số điện thoại liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã gửi thông tin đến Công ty Viễn thông Mobifone để xác minh nhưng chưa có kết quả, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9698g, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại 1,8190 gram); 01 tấm giấy màu trắng kích thước 30x30cm; biển số 53R7 – 6182, qua giám định là biển số xe giả. Những vật chứng trên là vật cấm tàng trữ; vật không còn giá trị sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với xe mô tô biển số 53R7 – 6182, số máy HC09E0589940, số khung: RLHHC09063Y589770, bị cáo khai nhận mua của một người không rõ lai lịch khoảng 10 năm trước. Qua tra cứu thông tin số khung, số máy xác định xe mô tô này không có trong dữ liệu tra cứu thông tin phương tiện cơ giới đường bộ. Qua xác minh, xác định biển số 53R7 – 6182 được cấp cho xe mô tô khác do ông Phạm Công Đ đứng tên chủ sở hữu và ông đang sử dụng. Kết quả giám định cho thấy biển số này là giả. Xét, đây là tài sản của bị cáo và không có trong dữ liệu tra cứu thông tin phương tiện cơ giới đường bộ, bị cáo sử dụng xe mô tô và 01 điện thoại di động có hiệu Iphone làm công cụ, phương tiện để mua bán ma tuý nên sẽ tịch thu nộp Ngân sách NH nước theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Trong thời gian bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý có thu nhập bất chính; tuy nhiên ngoài lời khai duy nhất của bị cáo thì không có chứng cứ nào khác chứng minh số tiền thu nhập bất chính cụ thể là bao nhiêu nên miễn bị cáo nộp lại số tiền này mà áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp vào Ngân sách NH nước là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào các điểm a, c Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách NH nước.
Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói nylon Hn kín chứa tinh thể rắn không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9698g, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại 1,8190 gram); 01 tấm giấy màu trắng kích thước 30x30cm; 01 biển số 53R7 – 6182, qua giám định là biển số xe giả.
Tịch thu nộp Ngân sách NH nước: 01 điện thoại di động có ghi chữ Iphone cùng 01 sim; 01 xe mô tô có số máy HC09E0589940, số khung: RLHHC09063Y589770.
(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Bình Chánh, THnh phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập vào 11 giờ 00 phút ngày 09 tháng 11 năm 2022 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi Hnh án Dân sự huyện Bình Chánh).
Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H.BC; - CA H. BC; - Chi cục THADS H.BC; - Sở Tư pháp, TP. HCM; - Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06; - Trại tạm giam đang giam, giữ bị cáo; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Hoàng Sơn |