vanban.org

Bản án 239/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Quốc A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quốc A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
————————
Bản án số: 239/2020/HS-ST
Ngày 26-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2020 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 229/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 225/2020/QĐXXST-HS ngày 15/6/2020 đối với bị cáo:

Dƣơng Quốc A (tên gọi khác T), sinh năm 1982 tại tỉnh Đ; thƣờng trú: A3/55, khu phố 3, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dƣơng Văn L (đã chết) và bà Đặng Thị Thu C (đã chết); bị cáo có 02 anh chị, lớn sinh năm 1973, nhỏ sinh năm: Không rõ; tiền án: Bản án số 75/2017/HSST ngày 07/7/2017, Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Đ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong hình phạt ngày 08/02/2019; tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 54/QĐ-TA ngày 29/4/2016, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; bị bắt tạm giam từ ngày 19/02/2020, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đỗ Thanh H, sinh năm 1975; thƣờng trú: 40/1 tổ 66, khu phố 9, phƣờng H, thành phố T, tỉnh B, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Lê Tấn P, sinh năm 1981, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Dƣơng Quốc A là ngƣời sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine từ năm 2015 cho đến khi bị bắt.

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/02/2020, Dƣơng Quốc A điều khiển xe mô tô hiệu WAYMAN màu xanh đen, số khung: 113696, số máy: 113969, biển số 61N8 - 6736 đi đến khu vực cầu Đồng Nai thuộc phƣờng L, thành phố B, tỉnh Đ mua của một ngƣời thanh niên tên T (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng giá 300.000 đồng. Dƣơng Quốc A giấu gói nylon vào vị trí giữa dây thắt lƣng và cạp quần phía bên phải, điều khiển xe mô tô đi về. Đến khoảng 01 giờ 20 phút cùng ngày, Dƣơng Quốc A điều khiển xe mô tô biển số 61N8 - 6736 đi đến khu vực vòng xoay kho TBS, khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh B thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng B phối hợp với Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma túy Công an thành phố D kiểm tra phát hiện vị trí giữa dây thắt lƣng và cạp quần phía bên phải có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. Dƣơng Quốc A khai nhận là ma túy đá nên bị bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng; xe mô tô nhãn hiệu WAYMAN màu xanh đen, số khung: 113696, số máy: 113969, biển số 61N8 – 6736.

Theo Kết luận giám định số 73/MT-PC09 ngày 25/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, khối lƣợng 0,3172 gam, loại Methamphetamine.

Tại cáo trạng số 265/CT – VKS ngày 28 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Dƣơng Quốc A về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Dƣơng Quốc A mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy ma túy loại Methamphetamine có khối lƣợng 0,2575 gam là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu WAYMAN màu xanh đen, số khung: 113696, số máy: 113969, biển số 61N8 – 6736 do ông Đỗ Thanh H là chủ sở hữu, không biết Dƣơng Quốc A sử dụng làm phƣơng tiện đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại xe cho ông H.

Tại phiên tòa, bị cáo Dƣơng Quốc A không tranh luận, đối đáp gì, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời chứng kiến không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 19/02/2020, tại khu vực vòng xoay kho TBS, khu phố N, phƣờng Bình Thắng, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, Công an phƣờng Bình Thắng phối hợp với Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Dĩ An phát hiện Dƣơng Quốc A tàng trữ ma túy loại Methamphetamine khối lƣợng 0,3172 gam để sử dụng. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 265/CT – VKS ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 75/2017/HSST ngày 07/7/2017, Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Đ xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng, bị cáo chƣa đƣợc xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tính tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử về tội gây rối trật tự công cộng và bị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Dƣơng Quốc A không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự để xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Xét ma túy loại Methamphetamine có khối lƣợng 0,2575 gam, mẫu vật hoàn lại sau giám định, là chất nhà nƣớc cấm tàng trữ, lƣu hành, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu WAYMAN màu xanh đen, số khung: 113696, số máy: 113969, biển số 61N8 – 6736 do ông Đỗ Thanh H là chủ sở hữu, không biết Dƣơng Quốc A sử dụng làm phƣơng tiện đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại xe cho ông H là phù hợp.

Đối với tên Toản bán ma túy cho Dƣơng Quốc A hiện chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An đang tiếp tục đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với các bị cáo cũng nhƣ việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Quốc A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy ma túy loại Methamphetamine có khối lƣợng 0,2575 gam, mẫu vật hoàn lại sau giám định.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2020).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Dƣơng Quốc A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ