vanban.org

Bản án 239/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 25/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn H D phạm tội"Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H D 18 (Mười tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2018. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn H D phạm tội"Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2018/HS-ST
Ngày: 25/6/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNHTN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành

2. Bà Nguyễn Thị Nhung

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tốn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2018 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 229/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn H D - tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17/4/1982; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ x, phường HVT, thành phố TN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1939 và bà Đinh Thị Minh Y (Đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2018 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến:

1. Ông Lê Văn S - sinh năm 1967, trú tại tổ Y, phường HTV, thành phố TN (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 22/4/2018, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố TN nhận được tin báo tại nhà của Nguyễn H D sinh năm 1982 trú tại tổ x, phường HVT, thành phố TN đang có các đối tượng tụ tập, có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác đến nhà D tiến hành kiểm tra hành chính thì chỉ có D ở nhà. Qua kiểm tra, Dũng tự giác lấy từ trên nóc tủ bảo ôn 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng (D khai là Heroin) được đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Canyon nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định.

Hồi 10 giờ 25 phút ngày 22/4/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của D, thu giữ tại góc bếp 01 máy giặt nhãn hiệu SANYO màu trắng đã qua sử dụng; thu giữ tại giường ngủ tầng 2 của D 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng, 01 cân điện tử đã qua sử dụng và 03 mảnh giấy bạc màu vàng.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, cân xác định số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn H D ngày 22/4/2018 có khối lượng 0,152 gam và lấy mẫu gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 612/KL-PC54 ngày 26/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn H D là chất ma túy, loại Hêrôin. Có khối lượng 0,152 gam.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn H D khai nhận: Dũng là người nghiện ma túy, thường xuyên đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khoảng 09 giờ ngày 22/4/2018 D đi từ nhà ở tổ x, phường HVT đến khu vực đầu cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố TN gặp và mua 01 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000đ. Sau đó D mang số ma túy mua được về nhà để sử dụng. D sử dụng một phần, phần còn lại D cất trên nóc tủ bảo ôn của nhà mình để sử dụng dần. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố TN làm nhiệm vụ, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì niêm phong ký hiệu D1; 01 máy giặt nhãn hiệu SANYO mầu trắng đã qua sử dụng; 01 cân điện tử màu đen đã qua sử dụng hiện đã hỏng; 01 xi lanh nhựa đã qua sử dụng và 03 mảnh giấy bạc mầu vàng. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN

Bản Cáo trạng số 237/CT -VKSTPTN ngày 21 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN đã truy tố bị cáo Nguyễn H D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn H D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn H D từ 18 đến 24 tháng tù giam.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu D1; 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng, 03 mành giấy bạc màu vàng, 01 cân điện tử không còn giá trị sử dụng.

Tạm giữ 01 máy giặt nhãn hiệu SANYO màu trắng đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội.

Phần lời nói sau cùng bị cáo D xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an,Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên thành phố TN trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, khách quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong cân trọng lượng, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ, kết luận giám định. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 22/4/2018 tại tổ x, phường HVT, thành phố TN, Nguyễn H D đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,152 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng.

Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015

Điều 249 của Bộ Luật hình sự quy định

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a...b

c, Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Xét thấy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS. Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS. Tuy nhiên xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, mua ma túy về sử dụng không có mục đích kiếm lời. Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì niêm phong ký hiệu D1; 01 chiếc cân điện tử màu đen đã qua sử dụng (bị cáo khai không còn giá trị sử dụng); 01xilanh nhựa, 03 mảnh giấy bạc màu vàng đã sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ toàn bộ.

- Đối với chiếc máy giặt nhãn hiệu SANYO màu trắng đã qua sử dụng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xác định là của anh PVH – sinh năm 1979, trú tại tổ Z, phường PĐP, thành phố TN mang đến nhà D để trả nợ. Tại phiên tòa, anh H vắng mặt tuy nhiên trong quá trình điều tra anh H xác định tài sản trên anh dùng để trả nợ khoản tiền vay bị cáo. Do đó xác định tài sản trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Hội đồng xét xử xét cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông đó, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn H D phạm tội"Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H D 18 (Mười tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2018.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu D1(Bì niêm phong chứa chất ma túy – Mặt sau bì có 03 dấu tròn của phòng KTHS – Công an tỉnh TN); 01 cân điện tử màu đen đã hỏng; 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng; 03 mảnh giấy bạc màu vàng.

- Tạm giữ của bị cáo Dũng 01 chiếc máy giặt nhãn hiệu SANYO màu trắng đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 262 ngày 24/5/2018 giữa Công an thành phố TN với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN)

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ