- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ph - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 239/2018/HS - ST Ngày 07 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lò Văn Ơn
Bà: Bạc Thị Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Châm - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 241/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 245/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Ph. Tên gọi khác: Không; sinh năm 1989 tại Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và chỗ ở: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951; vợ: Nguyễn Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 17/7/2018. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 17/7/2018, tại khu vực bản Na Láy, xã Na Ƣ, huyện Điện Biên, tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu Quốc tế Tây Trang phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu Quốc tế Tây Trang đã phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Ph đang có hành vi cất giấu trong túi xách màu đen đang cầm trên tay phải một gói bằng nilon màu trắng, miệng gói đƣợc vo cuộn lại, bên trong là lớp giấy màu trắng có kẻ đỏ có các chữ số, bên trong là cục chất dẻo màu nâu đen nghi là thuốc phiện.
Quá trình điều tra Ph khai nhận nguồn gốc số chất dẻo màu nâu đen đã bị thu giữ là thuốc phiện do Ph mua đƣợc của ngƣời đàn ông (không biết tên) ở khu vực rừng thuộc bản Na Láy, xã Na Ƣ, huyện Điện Biên với giá 100.000 đồng. Mục đích để sử dụng chữa đau bụng cho bản thân. Sau khi mua đƣợc, Ph cất giấu vào trong túi xách màu đen của mình để vận chuyển về nhà thì bị phát hiện thu giữ.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lƣợng, lấy mẫu giám định ngày 18/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản Kết luận giám định số: 685/GĐ - PC54 ngày 27/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã xác định số chất dẻo màu nâu đen thu giữ của Nguyễn Văn Ph là chất ma túy loại thuốc phiện có khối lƣợng 4,06 gam.
Tại bản Cáo trạng số 186/CT-VKSĐB ngày 03/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ph về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử á p dụng điểm b khoản 1 Điều 249; Điểm s, t khoản 1 Điều 51 và Điều 65/BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; Áp dụng khoản 4 Điều 328/BLTTHS, tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 4,06 gam nhựa thuốc phiện (Đã trích 1,13 gam gửi giám định không hoàn lại); Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo đã xuất trình những chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng nhƣ trong quá trình điều tra, bị cáo đều khai nhận vào ngày 17/7/2018, bị cáo đã có hành vi mua và cất giấu trái phép 01 gói nhựa thuốc phiện có khối lƣợng là 4,06 g để sử dụng chữa bệnh cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trƣớc pháp luật. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, gây ảnh hƣởng đến nền an ninh trật tự, an toàn trong xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là ngƣời phạm tội lần đầu, chƣa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cƣ trú (có xác nhận của chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú, sinh sống trƣớc khi phạm tội). Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tích cực giúp cơ quan Điều tra trong việc cung cấp thông tin, phát hiện tội phạm trong đƣờng dây mua bán trái phép chất ma túy. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s và điểm t khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết nào tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hƣớng xử lý đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, bản thân bị cáo không phải là ngƣời nghiện ma túy, do tin vào lời nói của ngƣời khác về tác dụng chữa bệnh của thuốc phiện nên mới mua, tàng trữ trái phép 4,06 gam để chữa bệnh mà không có mục đích nào khác. Khối lƣợng nhựa thuốc phiện mà bị cáo tàng trữ là không lớn nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo sẽ không quá 03 năm tù; bị cáo là ngƣời có nơi nơi cƣ trú rõ ràng. Xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nhƣ vậy, bị cáo có đủ điều kiện đƣợc hƣởng án treo theo hƣớng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, các con đều còn nhỏ, thu nhập chính của gia đình từ làm ruộng, vì vậy khó có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: 4,06 g nhựa thuốc phiện là vật thuộc loại Nhà nƣớc cấm tàng trữ, lƣu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các vấn đề khác: Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo mua đƣợc của một ngƣời không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không điều tra làm rõ đƣợc. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51 và Điều 65/BLHS; khoản 4 Điều 328/BLTTHS
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 01 (một) năm tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án 07/11/2018.
Tuyên trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ 4,06g thuốc phiện (Đã trích 1,13 gam gửi giám định không hoàn lại). Vật chứng đã đƣợc Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 10/10/2018.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/11/2018)./
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Bộ phận HS nghiệp vụ C.A H. Điện Biên; - CQ ĐT Công an huyện ĐB; - Nhà tạm giữ Công an huyện Điện Biên; - Bị cáo; - Chi cục T.H.A Dân sự H. Điện Biên; - Sở Tƣ pháp; - T.H.A HS; - UBND xã D, T.Nghệ An; - Lƣu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Văn Duy |