vanban.org

Bản án 238/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 07/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tao Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. 4. V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tao Văn S - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tao Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2026/HSST
Ngày 07/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuyên;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ

Ông Nguyễn Duy Kiên

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 7 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hứa Hải Linh - Kiểm sát viên. Ngày 07/5/2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 231/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tao Văn S, sinh năm 1996; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Thẻ CCCD số: 012096003729 cấp ngày 05/10/2022; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Bản Pa P, xã B, tỉnh Lai Châu; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Lự; Tôn giáo: không. Con ông: Tao Văn H, sinh năm 1975; Con bà: Phạm Thị Đ, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Không

Tiền sự 01: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 139/2024/QĐ-TA ngày 11/9/2024 với thời hạn 12 tháng.

Nhân thân:

- Bản án số 17/2021/HSST ngày 12/3/2021 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: Cưỡng đoạt tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H từ ngày 03/02/2026 đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn T – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tao Văn S (sinh năm: 1996; Nơi thường trú: Bản P, xã B, tỉnh Lai Châu) có tiền sử nghiện ma túy Heroin. Ngày 11/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc số 139/2024/QĐ-TA thời hạn 12 tháng đối với Tao Văn S. Ngày 22/6/2025, Tao Văn S chấp hành xong Quyết định cai nghiện bắt buộc trở về địa phương ở Bản P. Ngày 14/7/2025, UBND xã B ra Quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 93/QĐ-UBND đối với Tao Văn S thời hạn quản lý từ ngày 22/6/2025 đến ngày 22/6/2027.

Cuối tháng 6/2025, Tao Văn S đến công trường Vinhomes Cổ L địa chỉ xã Đ, thành phố Hà Nội làm công nhân thời vụ dưới sự quản lý của anh Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1988; Nơi thường trú: thôn Y, xã V, tỉnh Phú Thọ). Quá trình làm việc, sinh sống tại đây Sòn thay đổi nơi thuê trọ nhiều lần, không đăng ký khai báo tạm trú, không có nơi ở cố định.

Khoảng 11h00 ngày 25/12/2025, S một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu đỏ, gắn biển số 34K6-5363 mang theo xilanh gắn kim tiêm và ống nước cất đến khu nhà vệ sinh ký túc xã công trường Vinhomes Cổ L tìm mua chất ma túy để sử dụng. Sòn dựng xe mô tô tại bãi đất trống rồi đi bộ vào khu nhà vệ sinh của ký túc xá công trường. Sòn thấy cửa nhà vệ sinh cuối dãy bên trái trong trạng thái khép nên đi đến gõ cửa nói “có hàng không”, giọng nam giới (chưa xác định được nhân thân và địa chỉ) bên trong nói “lấy bao nhiêu”. Sòn nói “lấy 200.000đ” đồng thời cầm tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đưa vào bên trong qua khe cửa nhà vệ sinh. Nam thanh niên trong nhà vệ sinh cầm tiền và đưa ra ngoài 01 gói nilong màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng loại Heroine. Sòn cầm gói ma túy đi bộ sang nhà vệ sinh số 3 đóng cửa rồi lấy xilanh, ống nước cất và gói ma túy vừa mua cho chất ma túy vào trong xilanh gắn kim tiêm và cho nước cất vào xilanh lắc đều cho chất ma túy hòa tan trong nước. Sòn tay phải cầm xilanh gắn kim tiêm chứa chất ma túy đã được hòa tan, tự tìm ven thông qua kim tiêm đẩy chất ma túy vào cơ thể. Sau khi tiêm đưa hết chất ma túy vào cơ thể, Sòn đập vỡ vỏ ống nước cất, xilanh và vỏ đựng chất ma túy vứt vào bồn cầu vệ sinh xả nước. Sòn lấy xe mô tô đi ra cổng C10 công trường Vinhomes Cổ L thì gặp tổ công tác tuần tra kiểm soát của Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ đã kiểm tra hành chính Sòn. Tại thời điểm kiểm tra, S khai vừa sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ Công tác Công an xã Đ lập biên bản đưa S về trụ sở để làm rõ.

Công an xã Đ nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Sòn kết quả Dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Tại Cơ quan Công an, Tao Văn S khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.

* Vật chứng:

- Tạm giữ của Tao Văn S: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI sơn màu đỏ, đeo biển số 34K6-5363, số khung: RLSBE49L030112425; số máy: E432VN112425; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy biển số 34K6-5363 mang tên Lê Đức H2 - địa chỉ: Đ, N, Hải Dương và mẫu nước tiểu thu ngày 25/12/2025.

Ngày 03/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số D2075/QĐ-CSMT tại Kỹ thuật hình sự - Công an T đối với xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI nêu trên. Ngày 05/3/2026, Phòng K - Công an T ra Kết luận giám định số 2176/KL-KTHS kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI sơn màu đỏ, đeo BKS: 34K6-5363, có số khung: RLSBE49L030112425; có số máy: E432VN112425 là số nguyên thuỷ. Tra cứu xe máy vật chứng tại Phòng K - Công an thành phố H xác định xe mô tô không nằm trong dữ liệu xe máy vật chứng.

Kết quả điều tra xác định: Tra cứu chủ sở hữu xác định người đứng tên đăng ký xe mô tô là anh Lê Đức H2 địa chỉ: xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã N, thành phố Hải Phòng). Anh Nguyễn Văn H1 khai: Đầu tháng 12/2025, anh H1 mua xe mô tô trên tại một cửa hàng mua bán xe máy cũ giá 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Anh H1 hiện không nhớ mua ở cửa hàng nào. Sau khi mua xe mô tô, anh H1 để tại công trường cho công nhân sử dụng đi lại khi cần. Ngày 25/12/2025, anh H1 không biết S sử dụng xe mô tô của mình đi mua chất ma túy. Xác minh anh Lê Đức H2 tại xã N, TP Hải Phòng nhưng không xác định được người này nên không ghi được lời khai. Xét thấy xe mô tô trên có nguồn gốc rõ ràng, là tài sản hợp pháp của anh H1 không cần tiếp tục tạm giữ. Ngày 01/4/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh H1.

* Kết quả giám định: Ngày 06/01/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số D115/QĐ-CSMT tại Trung tâm pháp y thành phố H đối với mẫu nước tiểu thu giữ ngày 25/12/2025 của S. Ngày 08/01/2026, Trung tâm pháp y thành phố H ra Kết luận giám định độc chất số 43/2026/KLGĐĐC-TTPY kết luận: Mẫu nước tiểu vụ Tao Văn S giám định có tìm thấy các chất ma tuý là M, C, Methamphetamine và A.

Đối với xilanh gắn kim tiêm, vỏ ống nước cất và túi nilong đựng chất ma túy Heroine. Sau khi sử dụng, S cho vào bồn cầu nhà vệ sinh xả nước. Cơ quan điều tra dẫn giải S và tổ chức truy tìm tang vật nhưng không thu giữ được.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Tại bản cáo trạng số 382/CT-VKS ngày 14/4/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng; sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

+ Xử phạt Tao Văn S từ 27 đến 30 tháng tù.

Về vật chứng: Không

Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo:

- Về tội danh: Đồng ý với bản luận tội của Viện kiểm sát.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo sinh sống tại vùng có hoàn cảnh KTXH đặc biệt khó khăn; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên đề nghị HĐXX xém xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt: Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt và miễn án phí cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có hoàn cảnh kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu,chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định:

Ngày 14/7/2025, UBND xã B, tỉnh Lai Châu ra Quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 93/QĐ-UBND đối với Tao Văn S thời hạn quản lý từ ngày 22/6/2025 đến ngày 22/6/2027.

Khoảng 11h00 ngày 25/12/2025, tại công trường Vinhomes Cổ L, địa chỉ xã Đ, thành phố Hà Nội, Tao Văn S là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy tại Bản P, xã B, tỉnh Lai Châu đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã Đ kiểm tra và bắt giữ. Kết luận giám định độc chất trong nước tiểu của Tao Văn S có tìm thấy ma túy loại Morphine, C, M1 và A. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho các đối tượng mua bán ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, pháp luật để ngăn chặn loại tội phạm này nhưng vẫn ngày càng có chiều hướng gia tăng. Do đó, cần xét xử hành vi của bị cáo thật nghiêm minh mới có tác dụng răn đe bị cáo và góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nhận thức được hành vi sai trái của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.

Về tính chất mức độ phạm tội: Tội bị cáo phạm phải là loại tội ít nghiêm trọng.

Về nhân thân: Bản án số 17/2021/HSST ngày 12/3/2021 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: Cưỡng đoạt tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong bản án trên và đã được xoá án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật. Ngoài ra, bị cáo còn có 01 tiền sự chưa được xoá: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 139/2024/QĐ-TA ngày 11/9/2024 với thời hạn 12 tháng.

Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với nam thanh niên bán chất ma túy cho S. Sòn giao dịch qua khe cửa, không tiếp xúc trực tiếp, không biết đặc điểm, không biết tên và địa chỉ. Cơ quan điều tra dẫn giải Sòn xác định nơi mua chất ma túy và tổ chức điều tra nhưng không làm rõ được.

Về vật chứng vụ án: Không có.

Các vấn đề khác: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có hoàn cảnh kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Tao Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Tao Văn S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/02/2026.

3. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ