vanban.org

Bản án 238/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Linh V. Giao con chung tên Lâm Phan Gia H, sinh ngày 11/12/2013 cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng.

Về án phí: Anh V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 22/7/2024, anh V đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009104 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu thay đổi nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Linh V. Giao con chung tên Lâm Phan Gia H, sinh ngày 11/12/2013 cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2024/HNGĐ-ST
Ngày 09 - 9 - 2024
“V/v tranh chấp yêu cầu thay đổi
nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Trọng Tâm

Ông Nguyễn Hoàng Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 438/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp yêu cầu thay đổi nuôi con sau khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lâm Linh V, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: khóm X, phường H, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

- Bị đơn: Chị Phan Thị B, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: ấp C, xã H, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Anh Lâm Linh V trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Tại quyết định số 110/2017/ĐST-HNGĐ ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau công nhận anh và chị Phan Thị B thuận tình ly hôn.

Về nuôi con chung: Tại thời điểm thuận tình ly hôn, anh và chị B thống nhất giao hai người con chung là Lâm Nhật Đ, sinh ngày 10/3/2009 và Lâm Phan Gia H, sinh ngày 11/12/2013 cho chị B trực tiếp nuôi. Đến năm 2019, cháu Đ có nguyện vọng sống với anh nên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã giải quyết giao cháu Lâm Nhật Đ cho anh nuôi và tiếp tục giao cháu Lâm Phan Gia H cho chị B nuôi (Bản án sơ thẩm số 213/2019/HNGĐ-ST ngày 23/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã có hiệu lực pháp luật).

Từ tháng 6/2023 đến nay, chị B thường xuyên vắng nhà, không quan tâm, chăm sóc cháu Huy. Thực tế cháu H có nguyện vọng, đã về chung sống với anh và đang đi học tại Trường Tiểu học Hộ Phòng B, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Nay anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lâm Phan Gia H và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Phan Thị B đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Phan Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Tại bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 213/2019/HNGĐ-ST ngày 23/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã có hiệu lực pháp luật về việc yêu cầu thay đổi nuôi con sau khi ly hôn. Theo đó, anh V yêu cầu được nuôi cháu Lâm Nhật Đ và đồng ý giao cháu Lâm Phan Gia H cho chị Phan Thị B nuôi. Quá trình giải quyết, anh V xác định chị Phan Thị B thường xuyên đi làm nên vắng nhà, không quan tâm, chăm sóc cháu Lâm Phan Gia H, sinh ngày 11/12/2013. Thực tế cháu Huy có nguyện vọng, đã về chung sống với anh V và đang đi học tại Trường Tiểu học Hộ Phòng B, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (có xác nhận của nhà Trường). Xét thấy, cháu Lâm Phan Gia H đã trên 07 tuổi, Tòa án đã ghi nhận ý kiến, cháu H có nguyện vọng sống với anh V. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lâm Phan Gia H cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định. Chị Phan Thị B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, anh V không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Anh V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Linh V. Giao con chung tên Lâm Phan Gia H, sinh ngày 11/12/2013 cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Phan Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Anh V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 22/7/2024, anh V đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009104 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ