vanban.org

Bản án 238/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ vợ chồng: Bà Trần Thị Minh T được ly hôn với ông Hồ Hải N. Về con chung: Giao trẻ Hồ Hải Đ, sinh ngày 07/4/2015 cho bà Trần Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng; bà Trần Thị Minh T không yêu cầu ông Hồ Hải N cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18/4/2023
V/v vụ án ly hôn – mâu thuẫn gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nam

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức Nhì

2. Bà Vũ Thị Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 595/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc: “vụ án ly hôn - mâu thuẫn gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Minh T, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mă ̣t);

Địa chỉ: 240/13/21 NVL, Phườ ng K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: 574/93/6 Đường SC, phường BTĐ B, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Hồ Hải N, sinh năm 1986 (vắng mă ̣t);

Địa chỉ: 240/13/21 NVL, Phườ ng K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Thị Minh T trình bày:

Bà và ông Hồ Hải N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường K, Quận F, Thành Hồ Chí Minh (theo giấy Chứng nhận kết hôn số 202, quyển số 02/2012 ngày 30/10/2012).

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống bên gia đình chồng, ông N hay nhậu nhẹt và sau khi bà có khuyên nhủ thì ông N cai được một thời gian. Nhưng từ khi bà sinh con, ông N lại nhậu nhẹt nhiều hơn trước, thậm chí sau khi đi nhậu về còn đánh đập và chửi bới bà. Đến đầu năm 2022, do ông N uống rượu nhiều quá nên tinh thần không còn tỉnh táo, hơn nữa ông N còn mua cả roi điện về nhà khiến bà và con sợ hãi. Mặt khác, mẹ chồng cũng có khuyên bà và con nên dọn ra ngoài, đồng thời bà cũng tự nhận thấy không còn tình cảm với ông N nên bà và con đã dọn ra ngoài sống từ tháng 3/2022 cho đến nay. Do đó, cũng vào thời gian này thì vợ chồng đã sống ly thân và mặc dù vợ chồng có hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N để trả tự do cho nhau và ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà T xác nhận vợ chồng chung sống có 01 (một) con chung, tên là Hồ Hải Đ, sinh ngày 07/4/2015. Hiện nay, con chung đang sống cùng bà và bà là người lo cho cháu hàng ngày, đưa rước con đi học, chăm sóc cho con nên bà T đề nghị được trực tiếp nuôi con chung.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Trước đây, bà có yêu cầu ông N cấp dưỡng với số tiền là 3.000.000đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành. Tuy nhiên, bà T nhận thấy từ vài năm gần đây chỉ có một mình bà nuôi con, ông N không hề phụ giúp nuôi con. Ngay cả khi bà nộp đơn ly hôn, ông N cũng không lên Tòa giải quyết, do đó bà tự nhận thấy bà vẫn nuôi con tốt nên nay bà không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác nhận không có.

Bị đơn ông Hồ Hải N đã được Tòa á n triê ̣u tập hợp lê ̣ nhưng vắng mặt không lý do, không thể hiê ̣n ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham dự phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về trình tự thủ tục tố tụng dân sự: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo nguyên tắc xét xử; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Trần Thị Minh T và ông Hồ Hải N có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn mà chủ yếu là do ông N hay nhậu nhẹt và không quan tâm đến gia đình, do đó tình cảm giữa bà T và ông N đã không còn. Xét thấy, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 (một) con chung, tên là Hồ Hải Đ, sinh ngày 07/4/2015. Do hiện nay bà T đang trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng và hơn nữa trẻ Đ có nguyện vọng ở với mẹ, nên giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là hợp tình. Mặt khác, về việc cấp dưỡng nuôi con bà T không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T tự khai không có, nên không xem xét.

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bô ̣ yêu cầu của bà Trần Thị Minh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, các lời khai, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Mặc dù, ông Hồ Hải N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông N đều vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi.

Về quan hệ tranh chấp: Bà Trần Thị Minh T yêu cầu ly hôn với ông Hồ Hải N. Do đó, đây là “vụ án ly hôn – mâu thuẫn gia đình” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Hồ Hải N cư trú tại địa chỉ 240/13/21 NVL, Phườ ng K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, nên căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Minh T và ông Hồ Hải N tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường K, Quận F, Thành Hồ Chí Minh cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 202, ngày 30/10/2012, do đó đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Bà Trần Thị Minh T và ông Hồ Hải N là hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng từ về sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là vì ông Hồ Hải N hay nhậu nhẹt và đánh đập bà T và gây ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Chính vì vậy, vào năm 2022 bà T và con đã dọn ra ngoài ở, nên vợ chồng cũng đã sống ly thân và không ai còn quan tâm đến ai.

Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải, triệu tập xét xử để tạo điều kiện cho bà T và ông N hàn gắn hạnh phúc gia đình, nhưng ông N đều vắng mặt và không thể hiện ý kiến. Điều này chứng tỏ ông N không còn tha thiết cuộc sống vợ chồng, đồng thời không có thiện chí để hàn gắn hạnh phúc gia đình và cố tình để mặc bà T tự giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.

Qua những phân tích trên cho thấy: Quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông N đã trầm trọng, nên khả năng đoàn tụ không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, trước yêu cầu ly hôn của bà T đối vớ i ông N, nghĩ nên chấp nhận.

Về con chung: Bà Trần Thị Minh T xác nhận có 01 (một) con chung, tên là Hồ Hải Đ, sinh ngày 07/4/2015. Bà T không yêu cầu ông N cấp nuôi dưỡng con chung.

Xét, từ khi vợ chồng bà T và ông N sống ly thân thì trẻ Đ đều do bà T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, ngược lại ông N không quan tâm và chu cấp việc nuôi con chung. Hiện nay, trẻ Đ còn nhỏ tuổi, nên rất cần người me ̣ ở câ ̣n kề chăm sóc và nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho trẻ có đủ điều kiện phát triển về thể chất và tâm sinh lý một cách ổn định, nghĩ nên chấp nhâ ̣n yêu cầu của bà T là giao trẻ Đ cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác nhận không có; ông N vắng mặt nên Hội đồng xét xử không ghi nhận được ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm a, b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Điều 238 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ vợ chồng: Bà Trần Thị Minh T được ly hôn với ông Hồ Hải N.

- Về con chung: Giao trẻ Hồ Hải Đ, sinh ngày 07/4/2015 cho bà Trần Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng; bà Trần Thị Minh T không yêu cầu ông Hồ Hải N cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Minh T xác nhận không có, nên Tòa án không xem xét.

2. Thi hành ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Trần Thị Minh T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0012561 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, bà Trần Thị Minh T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

4. Giấy chứng nhận kết hôn số 202, Quyển số 02/2012, ngày 30/10/2012 do Ủy ban nhân dân Phường K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ