vanban.org

Bản án 238/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2021/HSST
Ngày: 28-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kiều Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Hoàng Công Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: ông Đặng Hồng Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 266/2021/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số ...../QĐXX-HS ngày 14 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam, Sinh ngày: 04/6/1985, tại xã T, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 9, xã T, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Văn L, Sinh năm: 1966; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1966; Vợ: Trần Thị L, Sinh năm: 1988; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/9/2021, Nguyễn Văn L gọi điện thoại cho Lê Thị P, sinh năm 1975, trú tại xóm C, xã N, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An hỏi “Chị có ma túy hồng phiến không bán cho hai trăm nghìn đồng”, P trả lời “Có” và nói ma túy bỏ ở trong bao thuốc lá để ở trước cổng nhà P. Sau đó, L đi bộ đến nơi thì thấy có một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng để ở đường phía trước cổng nhà P. L cầm bao thuốc lá mở ra xem thấy bên trong chứa 01 (Một) gói giấy bạc màu xám, bên trong gói giấy bạc màu xám có chứa 03 (Ba) viên nén màu hồng, L bỏ bao thuốc lá chứa ma túy đó vào trong túi quần phía trước bên trái và đồng thời lấy ra 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để ở trước cột cổng nhà P rồi đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày 02/9/2021, khi L đi về đến đoạn đường liên xóm thuộc xóm x, xã T, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng công an xã T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang; thu giữ ở trong túi quần phía trước bên trái của L 01 (Một) bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 03 (Ba) viên nén màu hồng nghi là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi dẫn giải Nguyễn Văn L về trụ sở để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Tại bản Kết luận giám định số 1140/KL-PC09 (Đ2- MT) ngày 27/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn L gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 0,3 gam (Không phẩy ba gam)

* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

- Một phong bì thư bưu điện, bên trong có chứa 02 (Hai) viên ma tuý (Methamphetamine) có khối lượng là 0,2 gam (Không phẩy hai gam) là số ma túy còn lại sau khi gửi giám định;

01 (Một) mảnh giấy bạc màu xám;

01 (Một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 (Một) phong bì niêm phong ban đầu và 01 (Một) chiếc máy điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn L.

Toàn bộ vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Bản cáo trạng số 216/VKS-DC ngày 29/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Luận tội tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã đánh giá tính chất, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Linh từ tháng tù đến 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng thu giữ của bị cáo hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.

Đối với 01 (Một) chiếc máy điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn L nhưng bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện đúng như cáo trạng truy tố; nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Diễn Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình nên vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/9/2021, L mượn điện thoại của bạn gọi cho Lê Thị P (sinh năm 1975, trú tại xóm C, xã N) mua được 03 viên hồng phiến với giá 200.000 đồng để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi Linh đang đi tìm nơi để sử dụng, tại khu vực đường liên xóm thuộc xóm x xã T, huyện Diễn Châu thì bị lực lượng công an xã T kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Kết luận giám định số ma túy thu giữ từ bị cáo là dạng ma túy Methaphetamin có tổng khối lượng là 0.3 gam. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án và diễn biến khách quan của vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của BLHS năm 2015 như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bất chấp sự nghiêm cấm của luật pháp, bất chấp hậu quả để thực hiện hành vi phạm tội miễn sao có lợi và nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng: không.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn hợp tác và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình điều đó thể hiện bị cáo thực sự ăn năn hối cải, mong muốn cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội; Từ những nhận định trên, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tương ứng được quy định điều 51 Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do nhưng thu nhập không ổn định, bản thân không có tài sản riêng có giá trị lớn. Nghĩ không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy là vật chứng không có giá trị sử dụng. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen đã qua sử dụng, bị cáo Linh không sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

Những vấn đề khác của vụ án: Đối với Lê Thị P là người đã bán ma túy cho L (theo lời khai của L). Qua xác minh Lê Thị P không có mặt tại địa phương. Kiến nghị với cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng nêu trên để xử lý theo quy định theo pháp luật.

Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/9/2021.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong có chứa ma túy thu giữ của bị cáo.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L 01 chiếc điện thoại di động màu đen đã qua sử dụng hiệu Itel.

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo phiếu nhập kho số NK030 ngày 30/11/2021.

3. Về án phí: Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Linh phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ