vanban.org

Bản án 238/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 30/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trần Vân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

điểm c khoản 1 điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Vân S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Vân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2020/HSST
Ngày: 30/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hiển Vinh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiệp

2. Ông Đặng Thế Vinh

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Lê - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:

Ông Quách Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 251/2020/TLST-HS ngày 16/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Vân S; Sinh năm: 1977; Nơi cư trú: Số X, phường Q, quận Ba Đình, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên Cha: Trần Vân C (Đã chết); Họ tên Mẹ: Nguyễn Thu D (Sinh năm: 1945); Danh chỉ bản số: 358 lập ngày 10/8/2020 tại Công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội;

TATS: 03 tiền án, 05 tiền sự

+ Tiền án:

- Ngày 04/9/1998, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 3 năm kể từ ngày tuyên án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (Trị giá tài sản 20.000.000 đồng) - Án số 1254/1998/HSST. Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình xác định Trần Vân S đã nộp án phí ngày 17/12/1998 - Án tích đã xóa.

- Ngày 13/12/2004, Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2004 (Án số 402/2004/HHST). Ra trại ngày 01/10/2006. Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình xác định Trần Vân S đã nộp án phí ngày 12/7/2005 - Án tích đã xóa theo nguyên tắc có lợi.

- Ngày 20/11/2009, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2009 (Án số 353/2009/HSST). Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm xác định Trần Vân S đã nộp án phí ngày 25/12/2009 - Án tích đã xóa.

+ Tiền sự:

- Từ ngày 13/6/2000 đến ngày 10/6/2020 có 05 tiền sự về các hành vi: Gây rối trật tự công cộng; Bắt đi cai nghiện bắt buộc; Sử dụng trái phép chất ma túy.

Tạm giữ: 05/8/2020.

Tạm giam: 11/8/2020

(Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 05/8/2020, tổ công tác Công an phường Hàng Gai trong khi làm nhiệm vụ tuần tra tại đường Chương Dương, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội phát hiện Trần Vân S có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, S tự nguyện lấy từ trong túi áo ngực đằng trước bên trái 02 gói giấy bạc bọc trong ni lông màu đen chứa chất bột màu trắng và khai nhận là ma túy “heroine” S mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, đưa S cùng tang vật về trụ sở Công an phường Chương Dương giải quyết. Ngoài ra còn thu giữ của S: 01 điện thoại di động NOKIA 105 màu đen, số IMEI: 353101112476915 kèm sim số 0325643759. Xét nghiệm Trần Vân S dương tính với ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 7209/KLGĐ-PC09 ngày 11/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc bên ngoài bọc ni lông đen thu giữ của Trần Vân S đều là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,230 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Vân S khai nhận: Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 05/8/2020 S đi bộ đến trước cửa số nhà 531 Bạch Đằng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội gặp và mua 02 gói heroine của một nam thanh niên không quen biết với giá 200.000 đồng để sử dụng. S cất số ma túy trên vào túi áo phía trước bên trái sau đó đi bộ về nhà. Khi đi đến trước cửa số nhà 445 Bạch Đằng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì bị lực lượng Công an phường Hàng Gai kiểm tra bắt giữ. S không quen biết người đàn ông đã bán ma túy cho S. Đối với chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số Imei: 353101112476915, gắn sim số 0325643759 là điện thoại của S dùng để sử dụng cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội.

Về người đàn ông bán ma túy cho Trần Vân S, do S khai không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 242/CT-VKS ngày 11/11/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Trần Vân S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: ma túy. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen kèm sim. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 05/8/2020, Trần Vân S đã có hành vi cất giấu 02 gói giấy bạc bọc trong ni lông màu đen chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,230 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại khu vực vỉa hè trước cửa số 445 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được ma túy là loại độc dược có hại cho sức khỏe của con người. Hành vi tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng của bị cáo là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó cần có mức hình phạt tù giam cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo có 03 tiền án, 05 tiền sự. Tuy các tiền án, tiền sự đều đã được xóa và ngoài thời hiệu nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng vẫn coi thường pháp luật, tiếp tục phạm tội. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cần xử phạt tù giam nghiêm khắc. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xem xét bị cáo khai báo thành khẩn để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử lý tang vật:

- Ma túy còn lại sau giám định, sim điện thoại đã cũ cần tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Trần Vân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng:

+ điểm c khoản 1 điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

+ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 107, 135, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

3. Xử phạt: bị cáo Trần Vân S 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2020.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

4. Tang vật:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 gói giấy bạc được bọc nilong màu đen, kích thước 1x1cm chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,23 gam (PC 09

- CATP. Hà Nội đã trích mẫu để giám định 0,03 gam, khối lượng còn lại là 0,2 gam); 01 sim điện thoại đã qua sử dụng.

+ Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số IMEI: 353101112476915.

(Tang vật hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 25/11/2020)

5. Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ