- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 238/2019/HNGĐ-ST Ngày 18 tháng 10 năm 2019 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Mừng; 2. Ông Trương Phước Công.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 457/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 408/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984.(có mặt).
Địa chỉ: Số 110 ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc L, sinh năm 1981. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà bà ông Nguyễn Khắc L cưới nhau vào năm 2001 có đăng ký kết hôn năm 2005. Hôn nhân do chúng tôi tự tìm hiểu. Trong quá trình chung sống vợ chồng rất hạnh phúc, chung sống 14 năm nhưng thời gian sau không còn hạnh phúc nữa, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng, những bất đồng quan điểm, không hợp nhau, vợ chồng không còn chung sống tháng 05.2019 đến nay. Thấy tình cảm không còn tôi yêu cầu ly hôn với Nguyễn Khắc L.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 19/10/2004 hiện nay đang sống với vợ chồng. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà và ông L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ nợ chung: Không có.
* Bị đơn: ông Nguyễn Khắc L đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L không gửi văn bản cũng như không tham gia các phiên hòa giải nên không ghi nhận được ý kiến của ông L về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: bị đơn ông Nguyễn Khắc L đã được tống đạt các Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng hôm nay ông L vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L là đúng theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị T xin ly hôn với ông Nguyễn Khắc L. Ông L có nơi cư trú tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Khắc L xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2001, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống mâu thuẩn ngày càng trầm trọng; hiện tại tình cảm hôn nhân giữa bà T và ông L không thể tồn tại không còn chung sống từ tháng 05.2019. Hội đồng xét xử xét thấy mối quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông L không thể hàn gắn được, mâu thuẩn phát sinh ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc. Vì vậy, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T xin ly hôn với ông Nguyễn Khắc L là phù hợp được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ con chung: bà và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 19/10/2004 hiện con chung đang chung sống cùng vơi và T và ông L, khi ly hôn bà T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung . Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ghi nhận ý kiến của cháu Thành; cháu Thành có nguyện vọng được ăn ở, sinh hoạt, học tập với ba là bà T. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cháu Thành cho bà T được tiếp tục trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật. Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, do bà T không yêu cầu. Nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Ông L không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng bà có quyền tới lui trông nôm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông L thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: bà T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về quan hệ nợ chung: ghi nhận bà T trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông Tam, bà Thanh trong thời kỳ hôn nhân thì bà T và ông L vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Các Điều 28, 35, 146, 147, 212, 213 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
2. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Khắc L.
3. Về quan hệ con chung: Bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Nguyễn Phước T, sinh ngày 19/10/2004, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quan hệ tài sản chung: Bà T và ông L trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về quan hệ nợ chung: ghi nhận bà T trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà T và ông L trong thời kỳ hôn nhân thì bà T và ông L vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0013033 ngày 13.5.2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà T đã nộp xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bà Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Nguyễn Khắc L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ./.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Thanh |