vanban.org

Bản án 238/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2018/HNGĐ_ST
Ngày: 06/8/2018
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Thìn – Cán bộ hưu trí

2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Hội liên hiệp phụ nữ TP.Biên Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Không tham gia

Ngày 06 tháng 8 năm 2018, tại Hội trường 06 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 913/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng X, sinh năm 1983

Địa chỉ: 45B, Kp.04, P.Bửu Long, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2. Bị đơn: Anh Lê Anh Y, sinh năm 1980

Địa chỉ: 45B, Kp.04, P.Bửu Long, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

(Chị X, anh Y có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng X trình bày: Năm 2005, chị cùng anh Lê Anh Y tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngày 01/11/2005, UBND phường Bửu Long cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 146, quyển số 01/2005 cho vợ chồng anh chị. Quá trình chung sống từ khi kết hôn vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống tính cách không hòa hợp, hiện nay vợ chồng đã không còn tình cảm gì với nhau, không ai quan tâm chăm sóc ai nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh Y có 02 con chung là Lê Nhật Duy, sinh ngày 29/5/2006 và Lê Nguyễn Bảo Yến, sinh ngày 01/3/2011, khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Yến, giao cháu Duy cho anh Y trực tiếp nuôi dưỡng, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn vợ chồng tự thỏa thuận; nợ chung của vợ chồng khi ly hôn là không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, bị đơn anh Lê Anh Y trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung như chị X trình bày là đúng. Cuộc sống vợ chồng anh không hạnh phúc. Nay chị X yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Lê Nhật Duy, sinh ngày 29/5/2006 và Lê Nguyễn Bảo Yến, sinh ngày 01/3/2011. Khi ly hôn thì tùy theo nguyện vọng của trẻ muốn được ai trực tiếp nuôi dưỡng thì anh cũng đồng ý. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; nợ chung của vợ chồng khi ly hôn là không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành lấy kiến của cháu Duy và cháu Yến: Cháu Duy có nguyện vọng được anh Y trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Yến có nguyện vọng được chị X trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng X khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Anh Y đối chiếu Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định chị X là nguyên đơn, anh Y là bị đơn trong vụ án.

- Chị X và anh Y có sổ hộ khẩu tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn chị X, bị đơn anh Y có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ khoản 01 Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

3. Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng X và anh Lê Anh Y tự nguyện kết hôn, có làm thủ làm thủ tục đăng ký kết hôn và được UBND phường Bửu Long cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 146, quyển số 01/2005 ngày 01/11/2005 nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị X và anh Y đều xác định cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị X yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh Y đồng ý nên chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Lê Nhật Duy, sinh ngày 29/5/2006 và Lê Nguyễn Bảo Yến, sinh ngày 01/3/2011. Anh Y có ý kiến người trực tiếp nuôi con chung tùy thuộc vào yêu cầu của trẻ, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Chị X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Yến, giao cháu Duy cho anh Y trực tiếp nuôi dưỡng không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu này phù hợp với nguyện vọng của cháu Yến và cháu Duy và ý kiến của anh Y nên chấp nhận.

- Về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn vợ chồng tự thỏa thuận; nợ chung của vợ chồng khi ly hôn là không có nên các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng X phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 68, 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng X đối với bị đơn anh Lê Anh Y về việc tranh chấp ly hôn.

Tuyên xử:

Chị Nguyễn Thị Hồng X, sinh năm 1983 được ly hôn với anh Lê Anh Y, sinh năm 1980.

Giao cháu Lê Nhật Duy, sinh ngày 29/5/2006 cho anh Lê Anh Y trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Nguyễn Bảo Yến, sinh ngày 01/3/2011cho chị Nguyễn Thị Hồng X trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Anh Y, chị Nguyễn Thị Hồng X được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng X phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 006767 ngày 16/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Chị X, anh Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ