- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H - Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Hòa được ly hôn anh Lê Văn Toàn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:237/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/6/2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Quang
Bà Phạm Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 224/2025/HNGĐ-TLST ngày 07/5/2025, về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hòa, sinh ngày 20/6/1997.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xã Bạch Đằng, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan.
Số CMND: xxxxxxxxx
Người được chị Hòa ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Anh Lường Văn Đông, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Số 72 Hoàng Sâm, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Thành phố. Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn Toàn, sinh ngày 09/9/1989.
Địa chỉ: Xóm 11, thôn Tống Thượng, xã Quang Thành, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
(Chị Hòa, anh Toàn đều có quan điểm đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nguyên đơn - chị Phạm Thị Hòa trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn Toàn được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quang Trung, huyện Kinh Môn (nay là xã Quang Thành, thị xã Kinh Môn), tỉnh Hải Dương ngày 27/06/2016. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 4/2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Tháng 8/2024 vợ chồng cắt đứt liên lạc, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Toàn.
Về quan hệ con chung: Chị và anh Toàn có 01 con chung là Lê Ngọc Bích, sinh ngày 19/01/2017. Hiện cháu Bích đang sinh sống cùng với bố và ông bà nội, ly hôn chị đồng ý để anh Toàn nuôi con, chị sẽ có trách nhiệm với con theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Toàn tự thỏa thuận, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Hòa tự nguyện chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Do điều kiện công việc chị Hòa không thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn nên chị đề nghị giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho anh Lường Văn Đông giao, nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án. Anh Đông đồng ý nhận ủy quyền của chị Hòa. Sau khi nhận văn bản của Toà án anh Đông đã thông tin cho chị Hòa biết, chị Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
- Theo bản tự khai và biên bản ghi lời khai, bị đơn - anh Lê Văn Toàn trình bày: Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị Hòa trình bày là đúng, năm 2018 anh và chị Hòa đều sang Đài Loan lao động, do anh lao động bất hợp pháp nên năm 2020 anh đã về Việt Nam, còn chị Hòa vẫn ở lại Đài Loan làm việc. Từ khi đi nước ngoài chị Hòa chưa về Việt Nam lần nào. Trong thời gian chị Hòa ở Đài Loan, vợ chồng thỉnh thoảng có liên lạc, hỏi thăm sức khỏe, sau đó do thời gian dài sống xa nhau nên vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tìm được tiếng nói chung. Tháng 8/2024 vợ chồng bắt đầu chấm dứt liên lạc, chị Hòa chỉ gọi điện thoại hỏi thăm con thông qua bố mẹ đẻ anh. Nay chị Hòa có đơn ly hôn, quan điểm của anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh mong muốn chị Hòa suy nghĩ rút đơn lại để vợ chồng đoàn tụ, nuôi dạy con chung. Trường hợp chị Hòa không rút đơn khởi kiện thì anh cũng đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ con chung: Anh và chị Hòa có 1 con chung là Lê Ngọc Bích, sinh ngày 19/01/2017, ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con, tự nguyện không yêu cầu chị Hòa phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị Hòa không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị Phạm Thị Hòa và anh Lê Văn Toàn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Hòa được ly hôn anh Toàn. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Lê Ngọc Bích, sinh ngày 19/01/2017 cho anh Lê Văn Toàn chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Toàn không yêu cầu chị Hòa cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị Hòa phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Chị Phạm Thị Hòa có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại xã Bạch Đằng, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Anh Lê Văn Toàn có hộ khẩu thường trú tại xóm 11, thôn Tống Thượng, xã Quang Thành, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Hiện tại chị Hòa đang sinh sống tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tài liệu của chị Phạm Thị Hòa gửi về Tòa án bao gồm: Đơn ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đơn đề nghị giám định, hợp đồng ủy quyền chưa được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định các tài liệu trên. Tại kết luận giám định số 1221/KL-KTHS ngày 14/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Các dấu vân tay trên tài liệu cần giám định với dấu vân tay trên giấy chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx của chị Phạm Thị Hòa là của cùng một người. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản chị Hòa nộp tại Tòa án là ý chí, nguyện vọng của chị Hòa.
Tại phiên tòa chị Hòa, anh Toàn vắng mặt nhưng anh chị đều có quan điểm xin được xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Hòa và anh Lê Văn Toàn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quang Trung, huyện Kinh Môn (nay là xã Quang Thành, thị xã Kinh Môn), tỉnh Hải Dương ngày 27/06/2016, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị Hòa xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị được ly hôn anh Toàn. Anh Toàn mong muốn chị Hòa rút đơn khởi kiện để vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị Hòa không đồng ý, do vậy anh cũng đồng ý ly hôn với chị Hoà. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Hòa và anh Toàn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hòa.
- Về con chung: Chị Phạm Thị Hòa và anh Lê Văn Toàn có một con chung là Lê Ngọc Bích, sinh ngày 19/01/2017. Ly hôn chị Hòa, anh Toàn thỏa thuận anh Toàn nuôi con. Xét thấy, hiện nay chị Hòa đang ở nước ngoài nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu Bích hiện đang sống cùng bố, cháu được học tập và phát triển tốt, do vậy để ổn định cuộc sống của cháu cần tiếp tục giao cháu Bích cho anh Toàn chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Toàn không yêu cầu chị Hòa phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Hòa và anh Lê Văn Toàn tự thỏa thuận, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về án phí: Chị Phạm Thị Hòa phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228, Điều 275, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Hòa được ly hôn anh Lê Văn Toàn.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Lê Ngọc Bích, sinh ngày 19/01/2017 cho anh Lê Văn Toàn chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi.
Chị Phạm Thị Hòa được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Chấp nhận sự tự nguyện của anh Toàn không yêu cầu chị Hòa phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Hòa phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001823 ngày 07 tháng 05 năm 2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị Hòa đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Hòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Lê Văn Toàn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã Quang Thành; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |