- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Kim Thảo - Ngô Quang Thịnh"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 237/2024/HNGĐ-ST Ngày 27 tháng 12 năm 2024 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân nhân dân: 1. Ông Đỗ Ngọc Bình.
2. Bà Lê Thị Minh Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 567/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Kim T; sinh năm: 1993 (xin vắng)
Địa chỉ: C N, Phường G (nay là Phường A), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Anh Ngô Quang T1; sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: A N, Phường C (nay là Phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ liên lạc: A T, ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hà Kim T trình bày:
Chị và anh Ngô Quang T1 quen biết tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới vào năm 2019 và đăng ký kết hôn tại U, thành phố M, Tiền Giang vào ngày 21/11/2022.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 7/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh T1 mắng chửi, không tôn trọng vợ và không đi làm. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung, khiến cho cuộc sống hôn nhân ngày càng trở nên mâu thuẫn trầm trọng. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Kim T yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Quang T1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Hà T2, sinh ngày 24/11/2022, khi ly hôn, chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Ngô Quang T1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng vẫn không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của chị T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ tho, tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử sơ thẩm tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Kim T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Hà Kim T và anh Ngô Quang T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại U, thành phố M, Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 47/2022, ngày 21/11/2022. Ngày 14/10/2024, chị T nộp đơn yêu cầu được ly hôn với anh T1, đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Ngô Quang T1 cư trú tại thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Nguyên đơn chị Hà Kim T có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Ngô Quang T1 đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng không có mặt để dự phiên tòa mà không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Kim T và anh Ngô Quang T1 được Ủy ban nhân dân Phường U, thành phố M, Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 47/2022, ngày 21/11/2022 nên xác định hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Tại đơn khởi kiện và trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị T trình bày, chị và anh Ngô Quang T1 quen biết tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại U, thành phố M, Tiền Giang vào ngày 21/11/2022.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 7/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T1 mắng chửi, không tôn trọng vợ và không đi làm. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, khiến cho cuộc sống hôn nhân ngày càng trở nên mâu thuẫn trầm trọng, không còn hạnh phúc.
Xét thấy, từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa xét xử hôm nay, Tòa án đã triệu tập anh T1 đến để tham dự, nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do, nên không đưa ra được một biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Việc anh T1 không đến dự phiên toà là mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng đoàn tụ với nhau. Hiện tại, chị T trình bày không còn tình cảm, không muốn tiếp tục chung sống đời sống vợ chồng với anh T1 nên đã nộp đơn ly hôn và vẫn cương quyết ly hôn, cho thấy cuộc sống vợ chồng anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong quá trình giải quyết và tại bản tự khai chị T trình bày trong thời kỳ hôn nhân anh, chị có 01 con chung tên Ngô Hà T2, sinh ngày 24/11/2022. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện tại cháu Ngô Hà T2 chưa được 03 tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: "Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con" nên để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu và xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Ngô Hà T2 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Vì lợi ích của con, chị T có quyền khởi kiện vụ án khác để yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con khi cảm thấy cần thiết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 189, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 8, 9, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị chị Hà Kim T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Kim T được ly hôn với anh Ngô Quang T1.
- Về con chung: Giao con chung tên Ngô Hà T2, sinh ngày 24/11/2022 cho chị Hà Kim T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh T1 không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Chị Hà Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 6857 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Hà Kim T và anh Ngô Quang T1 có quyền kháng cáo bản án trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - VKSND TP Mỹ Tho; - Các đương sự; - UBND Phường 1; - Chi Cục THADS TP Mỹ Tho; - Lưu. | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Liên |