- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trần Văn P - Phan Ngọc N"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 573/QĐ-VKS-DS ngày 10/10/2023.
- Căn cứ chính? Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT Hướng dẫn thực hiện một số điều…; Điều 2 Luật Đất đai; Điều 21 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 237/2024/DS-PT Ngày: 26 - 3 - 2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh.
Các Thẩm phán:
1. Bà Vũ Thị Thu Hương;
2. Bà Đỗ Thị Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Vũ Xuân Hương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên.
Vào ngày 26/3/2024, tại Phòng xử án dân sự Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 4018/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị ông Phan Ngọc N (bị đơn) kháng cáo và có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 573/QĐ-VKS-DS ngày 10/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 439/2024/QĐ-PT ngày 26/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2070/2024/QĐ-PT ngày 26/02/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1965, (có mặt)
Địa chỉ: 1 N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Phan Ngọc N, sinh năm 1965, (có mặt)
Địa chỉ: 1 N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị M, sinh năm 1959, (có mặt);
Địa chỉ: 1 N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Bà Phan Ngọc D, sinh năm 1993;
3.3. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1968;
3.4. Bà Phan Ngọc Y, sinh năm 1989;
Người đại diện theo ủy quyền của bà D, bà M1, bà Y: Ông Phan Ngọc N, sinh năm 1965 (Giấy ủy quyền lập ngày 10/5/2022 tại Văn phòng Công chứng C3, Thành phố Hồ Chí Minh; số 003195, quyển số 05).
Cùng địa chỉ: 1 N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
3.5. Bà Lê Thị C, sinh năm 1927;
Địa chỉ: A Đường H, Tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Ngọc N, sinh năm 1965; Địa chỉ: 1 N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền lập ngày 10/5/2022 tại Văn phòng Công chứng C3, Thành phố Hồ Chí Minh; số 003194, quyển số 05), (có mặt).
3.6. Bà Lê Ánh Q, sinh năm 1955 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: B Đường H, Tổ B, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.7. Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trụ sở: 168 T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim P1 - Chuyên viên Phòng T2 (Giấy ủy quyền số 8055/GUQ-UBND ngày 28/12/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), (có đơn xin vắng mặt).
4. Người kháng cáo, kháng nghị:
- Ông Phan Ngọc N (bị đơn) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 573/QĐ-VKS-DS, đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Tại Đơn khởi kiện, các Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn P trình bày:
Diện tích 1658m2 thuộc thửa 420, tờ bản đồ 12 (theo tài liệu 02) nay thuộc thửa 05, tờ bản đồ 84, phường L, Quận I (theo tài liệu năm 2003), nay là thành phố T có nguồn gốc là của cha mẹ vợ của ông Trần Văn P là ông Lê Văn N1 (chết năm 2005) và bà Nguyễn Thị K (chết năm 1998) sử dụng từ năm 1960. Đến ngày 12/6/1991, ông N1 và bà K lập giấy tay cho lại cho vợ chồng ông Trần Văn P bà Lê Thị M sử dụng. Vợ chồng ông Trần Văn P bà Lê Thị M sử dụng ổn định từ năm 1991 cho đến nay. Trên thửa đất 420 có căn nhà lá và các cây ăn trái do cha vợ ông Trần Văn P trồng, mặc dù ông Trần Văn P trực tiếp sử dụng thửa đất này nhưng không đăng ký kê khai và không nộp thuế.
Năm 2002, ông Trần Văn P đi đăng ký nhưng Ủy ban nhân dân phường L không cho, đến năm 2008 ông mới biết thửa đất 420 đã được Ủy ban nhân dân Quận I đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 164692 ngày 28/9/2000 cho hộ ông Phan Ngọc N. Thửa đất 420 nằm trong dự án chỉnh trang phát triển đô thị tại phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh nên Ủy ban nhân dân Quận I đã ban hành quyết định công bố giá trị bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Phan Ngọc N với số tiền là 1.801.914.000 đồng. Do đó, ông Trần Văn P yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:
- Tuyên hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 164692 ngày 28/9/2000 mà Ủy ban nhân dân Quận I đã cấp cho hộ ông Phan Ngọc N đối với thửa đất 420, tờ bản đồ số 12 (theo tài liệu 02), phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công nhận cho ông quyền sử dụng đối với diện tích đất 1658m2 thuộc thửa 420, tờ bản đồ số 12 (tài liệu 02), phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Văn P được nhận số tiền nhà nước hỗ trợ, bồi thường cho việc thu hồi thửa đất 420 là 1.801.914.000 đồng và tiền lãi phát sinh.
2/ Tại các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Ngọc N trình bày:
Ông Phan Ngọc N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguồn gốc thửa đất 420 là do cha mẹ ông Phan Ngọc N tên là Phan Văn N2 (chết năm 1977) và bà Lê Thị C sử dụng từ năm 1959 theo bản Khế ước tá điền kiểu mẫu số 2 lập ngày 06/01/1955. Sau đó, cha mẹ ông cho cậu ruột ông Phan Ngọc N là ông Lê Văn N1 sử dụng từ trước năm 1975. Đến năm 1987, ông N1 trả lại đất cho mẹ ông là bà Lê Thị C nhưng mẹ ông đã cho ông Phan Ngọc N sử dụng. Ông N đã đăng ký kê khai theo Chỉ thị 02/CT-UB và đóng thuế cho nhà nước. Ngày 28/9/2000, Ủy ban nhân dân Quận I cấp Giấy chứng nhận số N 164692 cho hộ ông Phan Ngọc N. Vào thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì hộ ông Phan Ngọc N gồm có 04 nhân khẩu là ông Phan Ngọc N, bà Nguyễn Thị M1, bà Phan Ngọc Y, Phan Ngọc D.
Năm 2008, phần đất này được Ủy ban nhân dân Quận I thu hồi do nằm trong quy hoạch dự án chỉnh trang phát triển đô thị tại phường L. Ban bồi thường – Giải phóng mặt bằng Quận I đã kiểm kê đất, ông đã nhận được Quyết định công bố giá trị bồi thường số 1152/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 với số tiền bồi thường là 1.801.914.000 đồng. Nhưng ông chưa nhận được tiền bồi thường, vì đất đang tranh chấp với ông Trần Văn P nên Ban Bồi thường – Giải phóng Mặt bằng Quận I đã ban hành Công văn 949/BBT ngày 24/11/2015 gửi số tiền bồi thường trên vào Ngân hàng chờ phán quyết của Tòa án.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1/ Bà Lê Thị M trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:
Đất tranh chấp do cha của bà Lê Thị M là ông Lê Văn N1 và mẹ là Nguyễn Thị K khai phá từ năm 1960. Đến năm 1991 cho vợ chồng bà Lê Thị M canh tác và sử dụng ổn định cho đến nay. Năm 2008 gia đình bà Lê Thị M mới biết thửa đất 420, tờ bản đồ 12 (theo tài liệu 02) nay thuộc thửa 05, tờ bản đồ 84, phường L, Quận I - nay là thành phố T (theo tài liệu năm 2003) đã được Ủy ban nhân dân Quận I cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phan Ngọc Nhân từ năm 2000. Bà Lê Thị M thống nhất ý kiến với ông Trần Văn P.
Cha của bà M là ông Lê Văn N1 và mẹ Nguyễn Thị K có 03 người con gồm:
- Lê Đình Q1, sinh năm không rõ, chết năm không rõ (khoảng 1971), không có khai tử, không có vợ con, chết khoảng 18 tuổi;
- Lê Ánh Q, sinh năm 1955;
-Lê Thị M, sinh năm 1959.
Khi chết ông N1, bà K không để lại di chúc.
3.2/ Bà Lê Thị C, bà Phan Ngọc D, bà Nguyễn Thị M1 và bà Phan Ngọc Y (có ông Phan Ngọc N đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C, bà Phan Ngọc D, bà Nguyễn Thị M1, bà Phan Ngọc Y thống nhất lời trình bày của ông Phan Ngọc N.
Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 164692 ngày 28/9/2000 cho đến nay, bà Phan Ngọc D, bà Nguyễn Thị M1, bà Phan Ngọc Y cùng chung hộ khẩu với ông Phan Ngọc N.
3.3/ Bà Lê Ánh Q trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:
Đất tranh chấp do cha của bà là ông Lê Văn N1 và mẹ Nguyễn Thị K khai phá từ năm 1960, đến năm 1991 cho vợ chồng em gái của bà Lê Ánh Q là ông Trần Văn P bà Lê Thị M canh tác và sử dụng ổn định cho đến nay. Bà Lê Ánh Q không có liên quan gì và cũng không có ý kiến gì đến mảnh đất này. Bà thống nhất ý kiến với ông P, bà M.
Cha của bà Q là ông Lê Văn N1 và mẹ Nguyễn Thị K có 03 người con gồm:
-Lê Đình Q1, sinh năm không rõ, chết năm không rõ (khoảng 1971), không có khai tử, không có vợ con, chết khoảng 18 tuổi;
-Lê Ánh Q, sinh năm 1955;
-Lê Thị M, sinh năm 1959.
Khi chết ông N1, bà K không để lại di chúc, bà Q không có ý kiến gì đối với phần đất tranh chấp.
3.4/ Ủy ban nhân dân thành phố T (có bà Nguyễn Thị Kim P1 đại diện) trình bày tại bản tự khai ngày 26/02/2024 như sau:
Ngày 18/9/1997, ông Phan Ngọc N có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 305, 267, 270 tờ bản đồ số 15 (Theo TL02/CT-UB) và thửa số 420, 426, 526 tờ bản đồ số 12 (theo TL02/CT-UB).
Ngày 06/6/2000, Ủy ban nhân dân phường L có ý kiến trên Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Ngọc N như sau:
“ - Cấp thửa 426, 526, 420 tờ bản đồ số 12.
- Đăng ký lẻ 305, 270 tờ bản đồ số 15.
- Không cấp thửa 267 (NĐ).”
Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban nhân dân phường L, ngày 17/8/2000, Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) ban hành Quyết định số 947/QĐ-UB-QLĐT về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ sử dụng đủ điều kiện tại phường L (đính kèm Danh sách các hộ đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận). Theo đó, hộ ông Phan Ngọc N được cấp 03 thửa đất 420, 426 và 526 tờ bản đồ số 12 (Theo TL02/CT-UB).
Ngày 28/9/2000, Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 164892 (số vào số cấp giấy chứng nhận 00933 QSDD/LB) cho hộ Phan Ngọc N gồm các thửa đất 420, 426, 526 tờ bản đồ số 12 (Theo TL02/CT-UB), diện tích 3.091m². Trong đó, thửa đất 420 tờ bản đồ số 12 (Theo TL02/CT-UB) có diện tích 1.658,0m².
Qua đối chiếu các tài liệu địa chính, việc kê khai đăng ký đối với phần đất diện tích 1.658,0m² như sau:
- Tài liệu 299/TTg: Thuộc một phần thừa số 419 tờ bản đồ số 02 do Ủy ban xã đăng ký (loại đất Hg), một phần thửa 582 tờ bản đồ số 03 do Ủy ban xã đăng ký (loại đất T+Q).
- Tài liệu 02/CT-UB: Thuộc thửa số 420 tờ bản đồ số 12 do ông Phan Ngọc N đứng tên, loại đất trồng cây lâu năm (LN).
- Tài liệu 2003: Thuộc một phần thửa số 05, tờ bản đồ số 84 cập nhật ông Trần Văn P, loại đất trồng cây lâu năm (LNK).
Từ những nội dung trên, Ủy ban nhân dân thành phố T nhận thấy:
- Thời điểm Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phan Ngọc N thực hiện theo quy định tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T3 và thời điểm này, theo tài liệu 02/CT-UB, ông Phan Ngọc N là người kê khai đăng ký thửa 420 tờ bản đồ số 12 diện tích 1.658,0m².
- Theo tài liệu 2003, phần đất trên thuộc thửa số 05 tờ bản đồ số 85 do ông Trần Văn P đứng tên. Tuy nhiên, tài liệu 2003 là tài liệu dã ngoại tại thời điểm tiến hành đo đạc, không phải là tài liệu đăng ký để làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện, đại diện theo ủy quyền Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là bà Nguyễn Thị Kim P1 có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 4018/2022/DS-ST ngày 28/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
[1] Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn P, như sau:
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00933-QSDĐ/LB ngày 28/9/2000 do Ủy ban nhân dân Quận I cấp cho hộ Phan Ngọc N, phần có nội dung: “Chứng nhận hộ Phan Ngọc N được quyền sử dụng thửa đất số 420, tờ bản đồ 12 tại phường L diện tích 1.658m2…”;
- Công nhận hộ Trần Văn P được quyền sở hữu số tiền đền bù hỗ trợ theo Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 của Ủy ban nhân dân Quận I về việc công bố giá trị bồi thường hỗ trợ cho diện tích 1.658,00m2 và tiền lãi phát sinh. Hộ Trần Văn P được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng để được nhận (và sở hữu) số tiền đền bù hỗ trợ theo Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 của Ủy ban nhân dân Quận I về việc công bố giá trị bồi thường hỗ trợ cho diện tích 1.658,00m2 là 1.801.914.000 đồng và tiền lãi phát sinh (đã được gửi vào Ngân hàng Đ2 – Chi nhánh Đ3 theo công văn số 949/BBT ngày 24/11/2015 của Ban Bồi thường – Giải phóng mặt bằng Quận I và chờ giải quyết tranh chấp của Tòa án).
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Ngọc N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 81.361.815 (tám mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi mốt ngàn tám trăm mười lăm) đồng.
H lại ông Trần Văn P tiền tạm ứng án phí là 8.290.000 (tám triệu hai trăm chín mươi ngàn) đồng thu theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AD/2011/03344 ngày 25/01/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự và các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
- Ngày 04/10/2023, ông Phan Ngọc N (bị đơn) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
- Ngày 10/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 573/QĐ-VKS-DS, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ mới. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 573/QĐ-VKS-DS ngày 10/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Ông Phan Ngọc N (bị đơn) trình bày yêu cầu kháng cáo và các căn cứ kháng cáo như sau: Ông kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm bởi các lý do sau:
Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử không công bố các chứng cứ là lời khai của những người làm chứng cho bị đơn. Phần đất tranh chấp thửa 420 do cha mẹ của bị đơn là ông Phan Văn N2, bà Lê Thị C sử dụng từ năm 1959, có bản Khế ước tá điền kiểu mẫu. Bị đơn có sử dụng đất, nhưng bản án sơ thẩm cho rằng bị đơn không sử dụng. Nguyên đơn sử dụng là thửa 421, liền kề với thửa 420; Thửa đất tranh chấp có hiện trạng là đất trống, nhưng bản án sơ thẩm lại cho rằng có tài sản trên đất.
Chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của bị đơn là căn cứ vào bản kê khai theo chỉ thị 02/CT-UB do bị đơn đăng ký, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định thu hồi đất và quyết định áp giá bồi thường đều đứng tên của bị đơn. Cấp sơ thẩm đã không xem xét toàn bộ chứng cứ chứng minh nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất đang tranh chấp do bị đơn cung cấp.
* Ông Trần Văn P (nguyên đơn) trình bày: Nguồn gốc thửa đất 420 do cha vợ của ông là ông Lê Văn N1 sử dụng trước 1975. Ngày 12/6/1991, ông Lê Văn N1 viết giấy tay cho lại vợ chồng ông sử dụng, vợ chồng ông sử dụng ổn định, liên tục đến khi nhà nước có quyết định thu hồi đất. Quá trình sử dụng đất, ông có đăng ký kê khai năm 2003, trước đó ông Lê Văn N1 có đi đăng ký kê khai nhưng không thực hiện được. Trên thửa đất 420 có các cây trồng và một phần căn nhà lá của gia đình ông sử dụng. Ông Phan Ngọc N không sử dụng thửa 420, nhưng thời điểm đó ông N là cán bộ tại địa phương nên đã đăng ký thửa đất 420 của gia đình ông và được cấp giấy chứng nhận thửa đất này. Việc ông Phan Ngọc N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông không biết, đến khi nhà nước thu hồi đất và lập phương án bồi thường cho ông N thì gia đình ông mới biết. Vì vậy, ông không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm như sau: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật. Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc N nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ nên chấp nhận. Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành trong thời hạn luật định, hợp lệ nên chấp nhận.
Về nội dung, sau khi phân tích và đánh giá chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng.
Thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Ngày 28/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên Bản án dân sự sơ thẩm số 4018/2023/DS-ST.
Ngày 04/10/2023, bị đơn ông Phan Ngọc N nộp đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hợp lệ nên chấp nhận.
Ngày 10/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 573/QĐ-VKS-DS. Quyết định kháng nghị phúc thẩm ban hành trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự, hợp lệ nên chấp nhận.
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bị đơn. Theo hướng dẫn tại mục 2 Phần IV văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, nội dung: Đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết trước ngày 01/7/2016, thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết“. Vụ án được Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lần đầu ngày 30/01/2013, nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ kháng nghị tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 573/QĐ-VKS-DS ngày 10/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Phan Ngọc N (bị đơn), về việc yêu cầu hủy bản án dân sự sơ thẩm, nhận thấy:
Về nguồn gốc đất và quá trình đăng ký, sử dụng đất.
Theo văn bản số 14592/VPĐK-KTĐC ngày 27/9/2018 của Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố H trả lời xác minh của Tòa án về nguồn gốc, quá trình đăng ký, kê khai và sử dụng đất từ trước và sau năm 1975, thì diện tích đất 1.658m2 thửa 420, tờ 12 (TL 02) nay là thửa 05, tờ 84 (TL 2003) có nguồn gốc như sau:
- Theo sổ địa bộ trước năm 1975: Thuộc một phần lô đất số 54, 66 tờ bản đồ số 3, xã L. Tại bản trích sao sổ địa bộ 300/TS-VPĐK-LT và 301/TS-VPĐK-LT ngày 14/9/2018, thì thửa 54 do bà Hứa Thuấn H1 đứng bộ, thửa 66 tên chủ đất là Lê Thị M2, Lê Thị T và ông Huỳnh Văn S cùng đứng bộ.
- Theo sổ mục kê ruộng đất (bộ S1) tài liệu 299/TTg: Thuộc thửa 582 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện T (cũ) kê khai;
- Theo sổ mục kê đất (bộ S2) tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB, thuộc thửa 420 do ông Phan Ngọc N kê khai;
- Theo tài liệu sổ giã ngoại tài liệu bản đồ địa chính (pháp lý năm 2003), thuộc thửa số 5 do ông Trần Văn P kê khai.
Tại biên bản lấy lời khai ông Cao Văn T1 ngày 11/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và bản phô tô Chứng thư đoạn mãi lập ngày 28/5/1971 giữa bà Hứa Thuấn H1 và ông Cao Văn T1, do ông Cao Văn T1 cung cấp, thể hiện: Vào năm 1971, ông T1 có mua mảnh đất diện tích 28.000m2 của bà Hứa Thuấn H1, việc mua bán có làm văn tự và trước bạ đầy đủ..... khoảng năm 1972 đến 1974 thì cha vợ ông Trần Văn P là ông Lê Văn N1 đã đến phần đất mà ông T1 mua của bà Hứa Thuấn H1 để chặt cây, trồng hoa màu,...gia đình ông N1 đã sử dụng phần đất chiếm của ông T1 từ trước năm 1975 và sử dụng liên tục cho đến khi ông N1 chết thì con rể ông N1 là ông Trần Văn P tiếp tục sử dụng, ông P đã cất nhà trên đất này.
Theo lời khai của nguyên đơn ông Trần Văn P, thì diện tích đất 1.658m2 thửa 420, tờ 12 (TL 02) nay là thửa 05, tờ 84 (TL 2003) có nguồn gốc như sau: Đất này do cha mẹ vợ của ông là ông Lê Văn N1 (chết năm 2005) và bà Nguyễn Thị K (chết năm 1998) sử dụng từ năm 1960. Đến ngày 12/6/1991, ông N1 và bà K lập giấy tay cho vợ chồng ông Trần Văn P, bà Lê Thị M sử dụng. Vợ chồng ông P, bà M sử dụng đất ổn định từ năm 1991 đến ngày nhà nước thu hồi đất. Trên thửa đất 420 có căn nhà lá và cây ăn trái do ông Lê Văn N1 trồng.
Tại “Giấy cho đất” ngày 12/6/1991 của ông Lê Văn N1, bà Nguyễn Thị K lập, có nội dung: “Vợ chồng tôi có khai phá được một miếng đất rẩy phía sau Đ, canh tác đến nay. Hôm nay ngày 12/6/1991, vợ chồng tôi cho con rể tôi là Trần Văn P và con gái tôi là Lê Thị M ở và sử dụng đất”. Nội dung giấy cho đất này không thể hiện ông N1 và bà K cho vợ chồng ông P thửa đất nào, diện tích bao nhiêu mét vuông, vị trí khu đất. Tuy nhiên, lời khai của nguyên đơn về người sử dụng đất và giấy cho đất của vợ chồng ông Lê Văn N1 phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện:
- Tại biên bản xác minh ngày 03/4/2017 của Tòa án, Ủy ban nhân dân phường L đã cung cấp thông tin như sau: Phần đất diện tích 1.658m2 thuộc thửa 420, tờ bản đồ số 12 (tài liệu 02/CT-UB) có nguồn gốc do ông Lê Văn N1 sử dụng từ khoảng năm 1975. Ông Lê Văn N1 không đăng ký đất theo Chỉ thị 299/TTg. Đến tài liệu 02/CT-UB, sổ mục kê ghi tên Ủy ban nhân dân xã, có cập nhật tên ông Phan Ngọc N nên ông Phan Ngọc N được Ủy ban nhân dân Quận I cấp giấy chứng nhận thửa đất trên. Thực tế phần đất trên do ông Trần Văn P sử dụng (tài liệu 2003 giã ngoại do ông P đứng tên). Ông Trần Văn P có canh tác và sử dụng phần đất này từ trước năm 2003 (không rõ thời gian chính xác).
- Tại Biên bản làm việc ngày 30/5/2017 và Công văn số 105/UBND ngày 06/6/2017 của Ủy ban nhân dân phường L thể hiện: Ngày 30/5/2017, Ủy ban nhân dân phường L có tổ chức cuộc họp lấy ý kiến cộng đồng dân cư có đại diện Ủy ban nhân dân và Công an phường L, Trưởng khu phố (thông qua ý kiến của một số hộ dân sống lâu năm tại địa phương, sử dụng đất giáp ranh với ông P và ý kiến của đại diện khu phố). Các thành viên tham gia thống nhất ý kiến: Phần đất thuộc thửa 420, tờ bản đồ số 12 do ông Lê Văn N1 sử dụng từ trước năm 1975, sau đó để lại cho con là bà Lê Thị M, ông Lê Văn P2 sử dụng đất (không rõ thời gian chính xác). Ông Phan Ngọc N không trực tiếp canh tác, sử dụng phần đất thuộc thửa 420, tờ bản đồ số 12. Thời điểm Ủy ban nhân dân Quận I cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00933-QSDĐ/LB ngày 28/9/2000 cho hộ ông N, thì ông P2 vẫn là người trực tiếp sử dụng phần đất nói trên.
- Lời khai của bị đơn ông Phan Ngọc N tại Biên bản làm việc ngày 26/3/2013 và Biên bản hòa giải ngày 19/3/2016 của Tòa án nhân dân Quận 9, có nội dung: Phần đất ông P2 đang tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông là ông Phan Văn N2 và bà Lê Thị C1 sử dụng từ năm 1959, khi ông lớn lên, sau 1980 thì ông biết người sử dụng đất này là ông Lê Văn N1 (ông N1 là cậu ruột) là người sử dụng cho đến khi ông N1 chết thì con gái và con rể ông N1 là ông P2 và bà M trực tiếp sử dụng cho đến nay, trên đất này còn một cây xoài, ổi, liễu do ông N1 trồng và ông P2 đang nuôi bò. Khi nhà nước thực hiện việc đăng ký kê khai vào năm 1998, 1999 ông có chở ông N1 đi đăng ký kê khai nhưng việc vì sao ông N1 không kê khai được thửa đất hiện nay ông P2 đang tranh chấp thì ông không biết, sau đó ông đăng ký kê khai được là dựa trên giấy tờ của cha mẹ ông để lại, năm 2000 thì ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế thì do đất gò nên ông không sử dụng mà do ông P2 tiếp tục sử dụng vì nó nằm liền kề với thửa đất khác của ông N1 để lại”. Như vậy, tại các văn bản này, ông N đã thừa nhận nguồn gốc đất là do ông Lê Văn N1 sử dụng, sau khi ông N1 chết thì con rể và con gái của ông N1 là ông Trần Văn P và bà Lê Thị M tiếp tục sử dụng; ông Phan Ngọc N không sử dụng thửa đất 420 nói trên.
Lời khai của ông Phan Ngọc N và bà Lê Thị C (mẹ của ông N), cho rằng thửa đất số 420 trước đây do cha mẹ ông N là ông Phan Văn N2 và bà Lê Thị C sử dụng từ năm 1959. Sau đó, bà C để lại phần đất này cho ông Lê Văn N1 (là em ruột bà C) sử dụng. Tuy nhiên, ông N và bà C đều không cung cấp được chứng cứ chứng minh cha mẹ ông N có sử dụng thửa đất số 420. Kết quả trả lời xác minh của Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố H tại văn bản số 14592/VPĐK-KTĐC ngày 27/9/2018, cũng không thể hiện ông Phan Văn N2 và bà Lê Thị C có đăng ký, kê khai sử dụng thửa đất số 420.
Ông Phan Ngọc N có cung cấp cho Tòa án tờ “Khế ước tá điền kiểu mẫu” (Loại A) dụ số 2 ngày 06/01/1955 (tu chính số 6 ngày 05/02/1955), để cho rằng thửa đất 420 có nguồn gốc của ông Phan Văn N2. Tuy nhiên, theo văn bản này thì ông Phan Văn N2 không phải là người nhận chuyển nhượng đất, mà chỉ là người thuê (mướn) đất của ông Lê Văn C2 trong thời hạn 05 năm từ ngày 19/6/1959 đến ngày 19/6/1964, với giá thuê đất hàng năm là mười lăm dạ thóc (lúa). Mặt khác, “Khế ước tá điền kiểu mẫu” này không thể hiện vị trí lô đất thuê, diện tích thuê cũng không phù hợp với diện tích đất thửa 420 mà ông Phan Ngọc N được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 164892 (số vào sổ 00933-QSDĐLB) ngày 28/9/2000. Hơn nữa, theo bản trích sao sổ địa bộ số 300/TS-VPĐK-LT và số 301/TS-VPĐK-LT ngày 14/9/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố như đã phân tích tại mục [2.1.1], thì ông Lê Văn C2 cũng không phải là người đứng tên sổ bộ và sử dụng thửa đất tranh chấp nói trên.
Từ phân tích trên, có căn cứ xác định: Thửa đất tranh chấp trước đây thuộc một phần thửa 54 và thửa 66 do bà Hứa Thuấn H1, Lê Thị M2, Lê Thị T và ông Huỳnh Văn S đứng bộ. Năm 1971, bà Hứa Thuấn H1 bán một phần đất cho ông Cao Văn T1. Khoảng năm 1972 đến 1974, thì cha vợ của ông Trần Văn P là ông Lê Văn N1 tự đến canh tác trên đất của ông T1, ông T1 không có ý kiến và không có tranh chấp với các đương sự. Quá trình sử dụng đất, ông Lê Văn N1 và vợ là bà Nguyễn Thị K có lập giấy tay ngày 12/6/1991 cho vợ chồng ông P, bà M sử dụng đất. Sau khi được cho đất, ông Trần Văn P và vợ là bà Lê Thị M sử dụng đất ổn định cho đến khi có Quyết định thu hồi đất số 75/QĐ-UBND ngày 08/01/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Khi nhà nước thực hiện việc kê khai, sử dụng đất vào năm 1998 – 1999, ông Phan Ngọc N có chở ông Lê Văn N1 đi đăng ký kê khai, nhưng lý do vì sao ông N1 không kê khai được thì ông N không biết. Sau dó, ông N dựa trên tờ “Khế ước tá điền kiểu mẫu” để được cập nhật tên người kê khai sử dụng thửa đất 420 theo tài liệu 02/CT-UB phía sau tên của Ủy ban nhân dân xã L (bút lục số 193C). Ngày 28/9/2000, hộ gia đình ông Phan Ngọc N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00933-QSDĐLB.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bị đơn.
Theo công văn số 51/UBND ngày 09/4/2014 của Ủy ban nhân dân phường L, thì: “Phần đất có diện tích 1658,0m² thuộc thửa số 420 tờ bản đồ số 12 đã được Ủy ban nhân dân Quận I cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số 00933QSDD/LB ngày 28/9/2000 cho hộ ông Phan Ngọc N. Thời điểm này, Ủy ban nhân dân quận T4 cấp giấy chứng nhận đại trà, theo người đứng tên đăng ký trên tài liệu 02/CT-UB. Hiện trạng là đất trống, thuộc phần ranh giới sử dụng của gia đình ông Trần Văn P”.
Công văn số 105/UBND ngày 06/06/2017 của Ủy ban nhân dân phường L, có nội dung: “Tại sổ bộ thuế năm 1997 thể hiện có tên ông Phan Ngọc N kê khai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp với diện tích 1400m², số thuế ghi thu là 25 kg thóc. Vị trí kê khai nộp thuế là tại ấp L Tuy nhiên thửa đất 420 tờ bản đồ 12 là thuộc ấp B. Ranh giới giữa 02 ấp L và Bến Đ1 từ trước đến nay là không thay đổi".
Tại bản tự khai ngày 09/9/2014 của bà Võ Thị Ngọc D1 (đại diện Ủy ban nhân dân Quận I, nay là thành phố T) khai nhận: Năm 2000, ông N nộp hồ sơ xin đăng ký quyền sử dụng đất cho phần đất tọa lạc tại phường L, Quận I. Theo đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tờ tự khai của ông Phan Ngọc N3 thì đất có nguồn gốc như sau: Trước năm 1975, đất do ông Lê Văn N1 (là cậu ruột) đứng bộ canh tác; Đến năm 1987, ông N1 để lại cho ông N sử dụng đến nay. Ngày 28/9/2000, Ủy ban nhân dân Quận I cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Ngọc N với diện tích 3.091m2, thuộc thửa 420, 526, 426 tờ bản đồ số 12 (tài liệu 02/CT-UB). Hiện nay, phần đất trên nằm trong ranh thu hồi dự án khu G, đã có Quyết định số 75/QĐ-UBND ngày 08/01/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc thu hồi khu đất 978.491m2 tại phường L, Quận I để chỉnh trang phát triển đô thị.
Lời khai của ông Phan Ngọc N khi lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trong quá trình giải quyết vụ án, là không thống nhất và không phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
- Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 16/9/1997, ông N khai thửa 420 là do ông bà để lại. Nhưng tại tờ tự khai nguồn gốc khu đất đính kèm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 16/9/1997, ông N khai việc cấp thửa 420 là do được sự ủy quyền đăng ký đất của ông Lê Văn N1. Tuy nhiên, ông N không cung cấp được giấy ủy quyền đăng ký đất của ông N1. Tại Biên bản làm việc ngày 05/6/2018 của Tòa án (bút lục 176), bà Võ Thị Ngọc D1 (đại diện ủy quyền của Ủy ban nhân dân Quận I) thừa nhận:“Giấy ủy quyền đăng ký đất không có trong hồ sơ lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Quận I để chuyển cho Ủy ban nhân dân Quận I nên không cung cấp được cho Tòa án”.
- Tại tờ tự khai nguồn gốc khu đất xin sử dụng (đính kèm theo đơn xin sử dụng đất) ngày 16/9/1997, ông Phan Ngọc N khai: Trước năm 1975 đến năm 1987 do ông Lê Văn N1 (là cậu ruột) sử dụng. Từ năm 1987 đến nay, ông là người trực tiếp sử dụng. Từ năm 1982 có đăng ký, do ông Lê Văn N1 đăng ký (bút lục số 85, 90).
Tuy nhiên, tại biên bản hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất ngày 27/12/2012 của Ủy ban nhân dân phường L, ông N khai: Phần đất 1.658m2 trước đây là của mẹ ông cho cậu ông là ông Lê Văn N1 sử dụng trồng cây trái và hoa màu. Nhưng khi đăng ký để cấp quyền sử dụng đất thì mẹ ông có thỏa thuận lại với cậu ông vẫn để cho cậu của ông trồng hoa màu nhưng phần đất này mẹ ông để lại cho ông đăng ký sử dụng và được cấp quyền sử dụng đất.
Tại bản tự khai ngày 01/03/2013, ông Phan Ngọc N khai: Nguồn gốc đất là do mẹ ông là bà Lê Thị C sử dụng từ năm 1959 để lại cho ông sử dụng vào năm 1989.
Tại Biên bản làm việc ngày 26/3/2013 và Biên bản hòa giải ngày 19/3/2016 của Tòa án nhân dân Quận 9, ông Phan Ngọc N khai: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông là ông Phan Văn N2 và bà Lê Thị C sử dụng từ năm 1959, khi ông lớn lên, sau 1980 thì ông biết người sử dụng đất này là ông Lê Văn N1 (ông N1 là cậu ruột) là người sử dụng cho đến khi ông N1 chết thì con gái và con rể ông N1 là ông P và bà M trực tiếp sử dụng cho đến nay, trên đất này còn một cây xoài, ổi, liễu do ông N1 trồng và ông P đang nuôi bò. Khi nhà nước thực hiện việc đăng ký kê khai vào năm 1998, 1999 ông có chở ông N1 đi đăng ký kê khai nhưng việc vì sao ông N1 không kê khai được thửa đất hiện nay ông P đang tranh chấp thì ông không biết, sau đó, ông đăng ký kê khai được là dựa trên giấy tờ của cha mẹ ông để lại, năm 2000 thì ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế thì do đất gò nên ông không sử dụng mà do ông P tiếp tục sử dụng vì nó nằm liền kề với thửa đất khác của ông N1 để lại.
Tại biên bản hòa giải ngày 15/12/2016 của Tòa án, ông Phan Ngọc N khai: Nguồn gốc đất là do cha mẹ ông là ông Phan Văn N2 (chết năm 1977) và bà Lê Thị C cho cậu ruột là ông Lê Văn N1 sử dụng trước năm 1975, đất của cha mẹ ông được cấp Tờ khế ước tá điền kiểu mẫu số 2 ngày 06/01/1955. Đến năm 1997, ông N1 trả đất cho bà C, sau đó bà C cho ông sử dụng, việc cho không lập giấy và ông đã đăng ký kê khai, đến năm 2000 ông được cấp giấy chứng nhận. Thực tế ông chỉ đăng ký kê khai, đứng tên trên giấy chứng nhận nhưng ông không trực tiếp sử dụng mà vẫn để ông N1 sử dụng đến năm 2000 (thời điểm ông được cấp giấy chứng nhận), khi ông N1 không sử dụng nữa thì ông có lấy lại đất để sử dụng, nhưng do phía ông và bà M có mâu thuẫn, bà M không chịu trả đất vì bà M cho rằng đất của cha bà M để lại.
Tại biên bản hòa giải ngày 30/3/2017 của Ủy ban nhân dân phường L, ông Phan Ngọc N khai: Thửa đất số 420 có nguồn gốc trước đây do mẹ ông sử dụng, sau đó mẹ ông để lại phần đất này cho ông Lê Văn N1 sử dụng. Ông N1 sử dụng và khai phá thêm. Ông N1 có ủy quyền cho ông đăng ký phần đất này và ông sử dụng từ đó đến nay, đã được cấp giấy chứng nhận ngày 28/9/2000.
Tại biên bản làm việc của Tòa án ngày 01/6/2021, ông Phan Ngọc N trình bày: Thửa đất 420 do cha mẹ ông sử dụng từ năm 1959 theo bản Khế ước tá điền kiểu mẫu số 2 ngày 06/01/1955. Sau đó cha mẹ ông cho anh ruột là ông Lê Văn N1 sử dụng từ trước năm 1975. Đến năm 1987 ông N1 trả lại đất cho bà Lê Thị C sử dụng. Sau đó bà C cho lại ông sử dụng. Ông đã kê khai đất theo Chỉ thị 02/CT-UB và đóng thuế cho nhà nước. Khi ông N1 giao trả đất thì gia đình ông trực tiếp canh tác, quản lý nhưng do canh tác không hiệu quả nên đất gần như để không, trên đất không cất nhà, không có ai ở trên đất để trực tiếp canh tác.
- Bà Lê Thị C có lời khai, rằng thửa đất 420 trước đây do bà sử dụng, sau đó cho ông Lê Văn N1 sử dụng. Khi ông N1 trả đất thì bà cho con là ông Phan Ngọc N sử dụng. Tuy nhiên, bà C không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà là người sử dụng thửa đất số 420.
Xét, lời khai của ông Phan Ngọc N và bà Lê Thị C có mâu thuẫn, không phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án; ông N và bà C cũng không cung cấp được các chứng cứ để chứng minh cho lời khai của mình, nên không có căn cứ chấp nhận.
Theo công văn số 105/UBND ngày 06/6/2017 của Ủy ban nhân dân phường L, thì: Tại sổ bộ thuế năm 1997 thể hiện có tên ông Phan Ngọc N kê khai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp với diện tích 1400m2, số thuế ghi thu là 25 kg thóc. Vị trí kê khai nộp thuế là tại ấp L Tuy nhiên, thửa đất 420 tờ bản đồ 12 là thuộc ấp B. Ranh giới giữa 02 ấp L và Bến Đ1 từ trước đến nay là không thay đổi.
Ông Phan Ngọc N có cung cấp cho Tòa án 02 Biên lai thuế sử dụng đất (bút lục số 84), nhưng hai biên lai này là bản phô tô, không rõ năm nộp, thửa đất và diện tích nộp thuế, chỉ ghi nộp thuế cây trồng trên đất, nên không phải là chứng cứ.
Tại Công văn số 212/UBND ngày 09/7/2018 của Ủy ban nhân dân phường L, có nội dung: Việc kê khai thuế đất nông nghiệp của các hộ dân được ghi nhận theo Sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp, các nội dung trong sổ bộ được ghi nhận như: họ tên, địa chỉ, hạng đất để tính thuế (diện tích m2, là đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm), số tiền thu thuế, số kg thóc tương ứng. Sổ bộ không ghi nhận vị trí thửa đất số 420, tờ 12 để xác định người thực hiện kê khai và đóng thuế. Ủy ban nhân dân phường rà soát theo tên chủ sử dụng thì không thấy thể hiện tên Trần Văn P và Phan Ngọc N kê khai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/12/2017 của Tòa án, thể hiện: Qua xem xét thực tế có một mái nhà tạm, trên đất có một số cây ăn quả như: mận, mít, xoài do gia đình ông P, bà M trồng không có giá trị (do bà M khai). Hiện nay thửa 420 đang tranh chấp do ông P, bà M quản lý sử dụng. Phía cuối biên bản, ông N, ông P và bà M có mặt ký tên.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/01/2022 của Tòa án, thể hiện: Thực trạng trên diện tích 1658m2 có mọc cỏ dại, có một số cây như xoài (02 cây), 01 cây mãng cầu, 02 cây mận, 04 cây ổi, 02 cây mít, 01 cây me. Nay, ông Phan Ngọc N cho rằng thửa 420 đất trống, không có tài sản trên đất, là không có căn cứ chấp nhận. Đối với các tài sản trên đất, ông Trần Văn P và ông Phan Ngọc N đều không yêu cầu gì.
Từ phân tích trên, có cơ sở xác định, Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp thửa đất số 420 cho hộ gia đình ông Phan Ngọc N dựa trên tờ kê khai sử dụng đất (cập nhật tên ông N phía sau kê khai của Ủy ban nhân dân xã L) và lời khai của ông N về quá trình sử dụng đất; Không xác minh người thực tế sử dụng thửa đất số 420 tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cho ông N.
Tại Điều 21 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành khi có quyết định thu hồi đất đó”. Trên thực tế, phần đất này được ông Lê Văn N1 sử dụng trước năm 1975, sau này ông N1 cho con là ông Trần Văn P, bà Lê Thị M sử dụng đất ổn định, liên tục cho đến khi nhà nước có quyết định thu hồi đất. Tại thời điểm Ủy ban nhân dân Quận I cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00933-QSDĐLB ngày 28/9/2000 cho hộ ông Phan Ngọc N, thì gia đình ông Trần Văn P là người đang trực tiếp sử dụng đất. Ông Phan Ngọc N và ông Trần Văn P đều không nộp thuế sử dụng đất. Như vậy, khi giao cho hộ gia đình ông Phan Ngọc N sử dụng thửa đất số 420, Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh đã không thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 2 và Điều 21 Luật Đất đai năm 1993.
Căn cứ Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 48 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, thì: “Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất”. Hộ gia đình ông Phan Ngọc N không sử dụng diện tích 1658m2, thửa đất 420, tờ bản đồ số 12, nhưng Ủy ban nhân dân Quận I cấp giấy chứng nhận cho hộ ông N thửa đất này là chưa đúng đối tượng sử dụng đất, không phù hợp theo quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất là hộ gia đình ông P. Vì vậy, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00933-QSDĐLB ngày 28/9/2000 cấp cho hộ ông Phan Ngọc N, liên quan đến diện tích đất 1658m2 thửa 420 là có căn cứ.
Hiện nay, diện tích đất 1658m2 thửa số 420 đã được Nhà nước thu hồi theo Quyết định số 75/QĐ-UBND ngày 08/01/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Quyết định số 419/QĐ-UBND ngày 07/10/2015 của Ủy ban nhân dân Quận I. Vì vậy, cấp sơ thẩm không công nhận cho hộ ông Trần Văn P được sử dụng thửa đất 420, mà tuyên cho hộ ông Trần Văn P được quyền sở hữu số tiền đền bù, hỗ trợ theo Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 của Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) và được liên hệ cơ quan chức năng để nhận tiền đền bù, hỗ trợ và tiền lãi của số tiền này theo quy định, là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung ngày 15/7/2015 của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận I, thì tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ thửa đất số 420 là 1.801.914.000 đồng.
Theo Công văn số 949/BBT ngày 24/11/2015 (bút lục 83) của Ban B (nay là thành phố T), thì số tiền bồi thường, hỗ trợ theo Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 của Ủy ban nhân dân Quận I đã được gửi vào Ngân hàng Đ2 – Chi nhánh Đ3 (địa chỉ I L, phường H, Quận I) theo chế độ tiền gửi tiết kiệm 01 tháng. Tại công văn số 1539/BIDV.ĐSG ngày 11/8/2023 của Ngân hàng Đ2 – Chi nhánh Đ3, cung cấp thông tin cho Tòa án, thì số tiền 1.801.914.000 đồng đang được gửi ở ngân hàng này và tiền lãi tính đến ngày 19/7/2023 là 666.176.769 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt; đồng thời hỏi ý kiến của các đương sự có mặt tại phiên tòa về những lời khai mà Hội đồng xét xử đã công bố. Vì vậy, bị đơn ông Phan Ngọc N cho rằng ông không được biết về lời khai của người làm chứng, là không có căn cứ.
Từ các phân tích nói trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Ngọc N (bị đơn), về việc hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Chi phí tố tụng, các đương sự không yêu cầu nên cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định.
Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền bồi thường nguyên đơn được nhận là 1.801.914.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 19/7/2023 là 666.176.769 đồng, nên án phí bị đơn phải nộp được tính: 72.000.000 đồng + (2% x 468.090.769 đồng) = 81.361.815 (tám mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm mười lăm) đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Ngọc N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà ông N đã nộp. Ông Phan Ngọc N đã nộp đủ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Ngọc N (bị đơn) và giữ nguyên bản án sơ thẩm, là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 2 và Điều 21 của Luật Đất đai năm 1993;
Căn cứ khoản 5 Điều 38, các điều 42, 46, 50 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ Điều 48 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất;
Căn cứ Điều 2 Mục I của Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT về việc công nhận quyền sử dụng đất khi thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 48 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ;
Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 573/QĐ-VKS-DS ngày 10/10/2023.
2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Ngọc N (bị đơn), về việc yêu cầu hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 4018/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xử:
2.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn P, như sau:
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00933-QSDĐ/LB ngày 28/9/2000 do Ủy ban nhân dân Quận I cấp cho hộ Phan Ngọc N, phần có nội dung: “Chứng nhận hộ Phan Ngọc N được quyền sử dụng thửa đất số 420, tờ bản đồ 12 tại phường L diện tích 1.658m2…”;
- Công nhận hộ Trần Văn P được quyền sở hữu số tiền đền bù hỗ trợ theo Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 của Ủy ban nhân dân Quận I về việc công bố giá trị bồi thường hỗ trợ cho diện tích 1.658,00m2 và tiền lãi phát sinh. Hộ Trần Văn P được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng để được nhận (và sở hữu) số tiền đền bù hỗ trợ theo Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 của Ủy ban nhân dân Quận I về việc công bố giá trị bồi thường hỗ trợ cho diện tích 1.658,00m2 (là 1.801.914.000 đồng và tiền lãi phát sinh (đã được gửi vào Ngân hàng Đ2 – Chi nhánh Đ3 (theo công văn số 949/BBT ngày 24/11/2015 của Ban Bồi thường – Giải phóng mặt bằng Quận I và chờ giải quyết tranh chấp của Tòa án).
2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Ngọc N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 81.361.815 (tám mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi mốt ngàn tám trăm mười lăm) đồng.
Hoàn lại ông Trần Văn P tiền tạm ứng án phí là 8.290.000 (tám triệu hai trăm chín mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AD/2011/03344 ngày 25/01/2013 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Phan Ngọc N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà ông N đã nộp theo Biên lai thu số AA/2023/0005563 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phan Ngọc N đã nộp đủ.
Các đương sự thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - TAND thành phố Thủ Đức; - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu: Vp, hồ sơ vụ án. CÁC THẨM PHÁN Vũ Thị Thu Hương – Đỗ Thị Hòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ánh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ánh |