- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông N xin ly hôn với bà D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Lê Văn N được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 237 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 07/6/2022 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Văn Hăng;
2. Ông Nguyễn Quốc Thanh;
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2021/TLST–HNGĐ, ngày 29 tháng 12 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 205/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.
(Ông N có đơn xin vắng mặt, bà D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Lê Văn N trình bày: Hôn nhân giữa ông và bà D là do mai mối, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Q cấp giấy chứng nhận kết hôn số 230 ngày 13/10/2003. Do tính tình không hòa hợp, thường cự cải và mâu thuẫn không hàn gắn được. Nguyên nhân là do bà D thường xuyên vô cớ và bỏ nhà đi từ đầu năm 2021 cho đến nay. Vụ việc có được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành.
Về con chung: 02 con chung tên Lê Nguyễn Duy T, sinh năm 2003 và Lê Nguyễn Duy H, sinh năm 2012. Ông N yêu cầu được nuôi dạy con chung khi ly hôn. Không yêu cầu bà D phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung..
Tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho bà D theo quy định nhưng bà D không có mặt theo các thông báo của Tòa án.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của bà D thì xác định bà D vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 09, ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, ông N vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng bà D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
Quan điểm Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc ghi lời khai, hòa giải, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà D. Đồng thời, bà D cư trú trên địa bàn huyện A. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: ông N vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N, bà D theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa ông N, bà D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của ông N xin ly hôn với bà D, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà D và ông N đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn. Xét thấy mâu thuẫn của bà D và ông N không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của ông N theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Bà D và ông N có 02 con chung tên Lê Nguyễn Duy T, sinh năm 2003 và Lê Nguyễn Duy H, sinh năm 2012. Cháu T hiện đã trưởng thành tự lập và có khả năng lao động không yêu cầu giải quyết. Cháu H đang sống với ông. Ông N cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung. Cháu N cũng có nguyện vọng tiếp tục sống với ông. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý bình thường và điều kiện sống của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận để cho ông N tiếp tục nuôi dạy cháu H là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có N vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông N không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của ông N.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Bà D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Về hôn nhân: Ông Lê Văn N được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 230 ngày 13/10/2003 của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Ông Lê Văn N được tiếp tục nuôi dạy con chung Lê Nguyễn Duy H, sinh năm 2012. Công nhận sự tự nguyện của ông N không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông N cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về án phí: Ông N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006701 ngày 29/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (Ông N nộp đủ án phí).
Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo của ông N, bà D là 15 ngày để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh AG (1); - VKS tỉnh AG (1); - VKS huyện AP (2); - THADS huyện A (1); - UBND xã Q(1); - Các đương sự (2); - Lưu VP (1); - Lưu HS (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Việt Quốc |