- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn H, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 237/2021/HSST Ngày: 18-8-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Trần Văn Sơn
2. Ông: Phan Thanh Bắc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà – Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Cẩm Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 18/8/2021, tại phòng xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 241/2021/HSST ngày 02/8/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2021/QĐXXST-HS ngày 04/8/2021 đối với bị cáo:
Họ tên: Quàng Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1981; tại: Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Bản H, xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn T và bà: Cà Thị A; bị cáo có vợ là: Bạc Thị B và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: chưa bị cơ quan nhà nước xử phạt vi phạm hành chính lần nào; ngày 24/8/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử 07 năm tù về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy theo bản án số 163/2006/HSST. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/5/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 04/5/2021 tại khu rừng đầu bản Hồng Lếch Cuông, xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, Quàng Văn H gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là Tuấn, nhà ở xã Thanh Luông, huyện Điện Biên. Qua chào hỏi H đã chỉ đường cho Tuấn về xã Thanh Luông và được Tuấn trả công cho H 12 viên Hồng phiến và 01 gói Heroine. H cầm số ma túy Tuấn đưa và đi bộ về nhà với mục đích để sử dụng. Sau khi có được ma túy, H đã nhiều lần lấy Heroine và 03 viên Hồng phiến để sử dụng. Hồi 09 giờ ngày 06/5/2021, khi H đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên phối hợp với Công an xã Thanh Luông, huyện Điện Biên vào kiểm tra. Phát hiện tổ công tác vào nhà H đã lấy gói Heroine và gói Hồng phiến trong túi quần bên phải đang mặc ra thả xuống gầm sàn nhà, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong có các cục bột mầu trắng (nghi Heroine) và 01 gói gói nilon màu trắng bên trong 09 viên nén mầu hồng (nghi ma túy tổng hợp). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 06/5/2021 đã xác định vật chứng thu giữ của Quàng Văn H gồm: 09 viên nén mầu hồng có khối lượng: 1,05 gam; các cục bột mầu trắng có khối lượng: 2,09 gam. Tại bản kết luận giám định số: 504/GĐ - PC09, ngày 15/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu vật chứng thu giữ của Quàng Văn H gửi giám định gồm: viên nén mầu hồng là ma túy; loại Methamphetamine; chất bột mầu trắng là ma túy; loại Heroine.
Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn H một lần nữa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại bản Cáo trạng số: 189/CT-VKSĐB ngày 02/8/2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Quàng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng của vụ án là 1,05 gam Methamphetamine đã trích 0,11 gam gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định; 2,09 gam Heroine đã trích 0,16 gam gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho mình, cũng như không có ý kiến gì tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát về bản luận tội.
Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm án, ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Ngày 06/5/2021, Quàng Văn H bị bắt quả tang khi đang cất giấu trong túi quần bên phải của bị cáo 1,05 gam Methamphetamine và 2,09 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Với hành vi và khối lượng 02 chất ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy, theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì khối lượng của các chất ma túy bị cáo cất giấu là 3,14 gam (2,09 gam Heroine + 1,05 gam Methamphetamine = 3,14 gam). Tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của bị cáo tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 24/8/2006 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử 07 năm tù về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy theo bản án số 163/2006/HSST; ngày 17/3/2011 bị cáo chấp hành xong bản án. Bị cáo đã được xóa án tích. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, đã từng bị Tòa án xét xử tội phạm về ma tuy, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 3,14 gam nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng nên không có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với người đàn ông tên Tuấn trả công bằng ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã xác minh tại xã Thanh Luông nhưng không xác định được người tên Tuấn như bị can đã khai, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng: 1,05 gam Methamphetamine và 2,09 gam Heroine thu giữ của bị cáo là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 06/5/2021.
3. Biện pháp tƣ pháp và việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 1,05 gam Methamphetamine đã trích 0,11 gam gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định; 2,09 gam Heroine đã trích 0,16 gam gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định.
(Vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2021).
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/8/2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐB; - VKSND h. ĐB; VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan ĐT + Nhà tạm giam, giữ h. ĐB; - Bộ phận HSNV Công an h. ĐB; - Sở Tư pháp t. Điện Biên +THA H.Sự; - Chi cục THADS h. ĐB; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thu Hƣơng |