- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Loan - Đặng Thành Trung"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị L .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 237/2019/HNGĐ-ST Ngày 05 - 11 - 2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoài Phong
Ông Đặng Hữu Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 05 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 493/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 457A/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị L , sinh năm 1988.
Cư trú tại: Ấp Phú Quý, xã T , huyện Đ , tỉnh C . (có mặt)
- Bị đơn: Anh Đặng Thành T , sinh năm 1989.
Cư trú tại: Ấp Phú Quý, xã T , huyện Đ , tỉnh C . (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2019 trong qúa trình giải quyết và xét xử nguyên đơn chị Trương Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đặng Thành T kết hôn vào năm 2011, hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hiệp Tùng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hai bên gia đình có hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng tình trạng mâu thuẫn vẫn còn kéo dài. Hiện chị và anh T đã ly thân khoảng hơn 1 năm nay và mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu được ly hôn với anh T .
Về nuôi con chung: Có một người con chung là Đặng Trương Nhật A , sinh ngày 22/9/2012. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nhật A , cấp dưỡng không đặt ra. Tại phiên họp và tại phiên tòa, chị L thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị L yêu cầu giao con cho anh T nuôi dưỡng, vấn đề cấp dưỡng không đặt ra.
- Trong qúa trình giải quyết và xét xử bị đơn anh Đặng Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng như chị L trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn như chị L trình bày là đúng, anh thừa nhận có không quan tâm vợ con, vợ chồng có ly thân khoảng vài tháng nay do chị L hiện tai đi làm ở Đồng Nai, anh có thường xuyên điện thoại cho chị L nói chuyện với con. Tuy nhiên, do anh vẫn còn tình cảm với chị L nên anh yêu cầu chị L về hàn gắn vợ chồng. Do đó anh không đồng ý ly hôn với chị Loan.
Về nuôi con chung: Có 01 người con Đặng Trương Nhật A , sinh ngày 22/9/2012. Khi ly hôn, anh T đồng ý tiếp tục nuôi con, vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.
Về tài sản chung: Chị L và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Chị L và anh T xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hôn nhân. Chị L và anh T kết hôn vào năm năm 2011, đến ngày 20/4/2011 đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 165/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Hiệp Tùng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa chị L xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu ly hôn với anh T . Anh T xác định có không quan tâm vợ con, nay anh vẫn còn tình cảm với chị Loan nên không đồng ý ly hôn với chị L .
Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình chung sống chị L và anh T có phát sinh mâu thuẫn, do đó vào tháng 5 năm 2018 chị có đơn ly hôn với anh T , sau khi Tòa án giải quyết tại Bản án số 150/2018/HNGĐ-ST ngày 10/7/2018 bác đơn ly hôn của chị L để vợ chồng về sống với nhau, nhưng anh T không thay đổi và không quan tâm vợ con, không có quyết tâm hàn gắn quan hệ vợ chồng. Cũng như, hiện nay chị và anh T đã ly thân khoảng hơn 1 năm nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai và không còn chung sống cùng nhau, nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình…”. Viện dẫn theo điều luật quy định trên thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa chị L với anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L về việc ly hôn với anh T .
Về nuôi con chung: Tên Đặng Trương Nhật A , sinh ngày 22/9/2012, hiện cháu A đang ở cùng anh T . Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, chị L và anh T thỏa thuận, khi ly hôn chị L giao con cho anh T nuôi dưỡng, anh T đồng ý tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” viện dẫn từ điều luật trên, theo biên bản ghi ý kiến của cháu A vào ngày 25/10/2019 cháu A có nguyện vọng ở với anh T . Do đó, cần giao cháu A cho anh Trung nuôi dưỡng. Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con anh T không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị L và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Chị L và anh T xác định không có.
Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 19; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào Điều khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị L .
1. Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị L ly hôn với anh Đặng Thành T .
2. Về nuôi con chung: Giao Đặng Trương Nhật A , sinh ngày 22/9/2012 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Chị Trương Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về chi tài sản: Chị L và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0009940 ngày 11/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị L, anh T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Ủy ban nhân dân xã Hiệp Tùng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Đương sư; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT.Tòa án Đầm Dơi. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Giang Nam |