vanban.org

Bản án 236/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/09/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh văn N - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2026/HS-ST
Ngày 09-9-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Bá Sinh và bà Trần Thị Thơm.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 255/2026/TLST-HS ngày 27/8/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2026/QĐXXST-HS ngày 28/8/2026 đối với bị cáo:

Đinh Văn N, sinh ngày 11/12/1999 tại xã Đ, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã Đ, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Số CCCD: 0140……194; Con ông Đinh Văn K và bà Lường Thị P; bị cáo có vợ là Lò Thị H và 02 con; tiền án; tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2026 đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lò Thị H, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Bản N, xã Đ, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ ngày 26/5/2026, tổ công tác Công an xã V, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản B, xã V, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra đối với xe máy BKS: 26G1 – …….1 do Đinh Văn N điều khiển. Qua kiểm tra, phát hiện N đang cất giấu dưới lớp xốp của chiếc mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai màu hồng để trong cốp xe có 03 gói: gói thứ nhất được gói bên ngoài bằng một lớp nilon màu đen, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đề có ký hiệu WY, nghi là ma tuý tổng hợp; gói thứ hai được gói bên ngoài bằng một lớp nilon màu đen, tiếp đến là một lớp nilon màu hồng, trong cùng chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine; gói thứ ba được gói bên ngoài cùng bằng một lớp nilon màu đen, tiếp đến là một lớp nilon màu trắng, trong cùng chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine. N khai nhận đó là ma túy của N cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ vào hành vi vi phạm, tổ công tác tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ, niêm phong vật chứng có liên quan để điều tra, xử lý.

Ngày 26/5/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La tiến hành test ma túy đối với Đinh Văn N. Kết quả: Âm tính với chất ma túy. Xác minh Đinh Văn N không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Ngày 26/5/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La tiến hành xác định: Khối lượng ma túy thu giữ của Đinh Văn N, kết quả như sau:

- 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,20 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N.

- Chất bột màu trắng đựng trong gói thứ hai có khối lượng 0,29 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N1.

- Chất bột màu trắng đựng trong gói thứ ba có khối lượng 0,33 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N2.

Tại kết luận giám định số 900/KL-KTHS ngày 01/6/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“- Mẫu giám định ký hiệu N là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu giám định là 0,20 gam”.

“- Mẫu giám định ký hiệu N1, N2 là ma túy, Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại BLHS năm 2015 (sử đổi bổ sung năm 2017, 2025) và Nghị định số 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là N1 = 0,29 gam và N2 = 0,33 gam.

Quá trình điều tra Đinh Văn N khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 9 giờ ngày 26/5/2026, Nghĩa điều khiển xe máy BKS: 26G1 – 3….1 đi đến bản L, xã V, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Trên đường đi N gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi N đã hỏi và mua được của người đàn ông 03 gói: gói thứ nhất được gói bên ngoài bằng một lớp nilon màu đen, bên trong chứa 02 viên ma tuý tổng hợp; gói thứ hai được gói bên ngoài bằng một lớp nilon màu đen, tiếp đến là một lớp nilon màu hồng đựng Heroine; gói thứ ba được gói bên ngoài cùng bằng một lớp nilon màu đen, tiếp đến là một lớp nilon màu trắng đựng Heroine với giá 300.000 đồng. N cất giấu các gói ma túy dưới tấm lót xốp chiếc mũ bảo hiểm màu hồng để trong cốp xe máy rồi điều khiên xe máy đi về. Trên đường đi về đến bản B, xã Vthì bị tổ Công tác công an xã V kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Đối với chị Lò Thị H: là vợ của Đinh Văn N, chiếc xe máy BKS: 26G1 – 3….. là tài sản chung của chị Lò Thị H và Đinh Văn N, việc N điều khiển xe máy đi mua và cất giấu ma tuý, chị H không biết và không liên quan, chị đề nghị được xin lại chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại.

Tại bản Cáo trạng số 118/CT- VKSSLA - KV ngày 26 tháng 8 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố bị can Đinh Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Xử phạt Đinh Văn N từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành. Mặt trước ghi: "Vỏ gói ban đầu vụ Đinh Văn N, sinh năm 1999 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 26/5/2026 và 01 chiếc mũ bảo hiểm của Công ty TNHH thương mại và đầu tư Tân Hữu Phát, màu sơn hồng

- đen, đã qua sử dụng.

Trả lại cho chị Lò Thị H: 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh - đen, số khung JK03E660810, số máy RLHJK0310NY037562, biển kiểm soát 26G1-3….., xe đã qua sử dụng cũ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 005675, tên chủ xe Lò Thị H và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự số XB25/0491761 đối với xe có biển kiểm soát 26G1-343.61, chủ xe Lò Thị H.

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) giấy phép lái xe số 330…..55, mang tên Đinh Văn N, cấp ngày 26/11/2019 và 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm không rõ nhãn hiệu, màu sơn đen - xanh, trên mũ có dòng chữ "Drew house", đã qua sử dụng cũ.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị H trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét cho chị được xin lại chiếc xe máy BKS 26G1-3….1 cùng giấy tờ xe để làm phương tiện đi lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết với giá 300.000 đồng vào ngày 26/5/2026, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan điều tra.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đinh Văn N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 26/5/2026 bị cáo Đinh Văn N đã có hành vi tàng trữ 0,20 gam, loại Methamphetamine và 0, 62 gam, loại Heroine mục đích để sử dụng.

Đinh Văn N tàng trữ hai chất ma túy, căn cứ Điều 4 Nghị định số 19 ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 8 Nghị định số: 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự, tổng khối lượng của hai chất Methamphetamine và Heroine của Đinh Văn N là 0,20 gam + 0,62 gam= 0,82 gam.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là thương binh và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng sử dụng chất ma túy.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, bị cáo không có tài sản gì có giá trị, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành. Mặt trước ghi: "Vỏ gói ban đầu vụ Đinh Văn N, sinh năm 1999 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 26/5/2026. Xét thấy, đây là vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm của Công ty TNHH thương mai và đầu tư Tân Hữu Phát, màu sơn hồng - đen, đã qua sử dụng. Xét thấy, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh

- đen, số khung JK03E660810, số máy RLHJK0310NY037562, biển kiểm soát 26G1-3…..1, xe đã qua sử dụng cũ là tài sản chung của vợ chồng, việc bị cáo điều khiển xe đi mua và cất giấu ma tuý, chị H hoàn toàn không biết và không liên quan. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, tuyên trả lại chiếc xe máy trên cho chị Lò Thị H.

Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 005675, tên chủ xe Lò Thị H và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự số XB25/0491761 đối với xe có biển kiểm soát 26G1-3….., chủ xe Lò Thị H là tài sản của chị Hoa, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn N. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS, tuyên trả lại cho chị Lò Thị H.

Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số 330195024355, mang tên Đinh Văn N, cấp ngày 26/11/2019 và 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm không rõ nhãn hiệu, màu sơn đen - xanh, trên mũ có dòng chữ "Drew house", đã qua sử dụng cũ, là giấy tờ, tài sản của bị cáo và không sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS, tuyên trả lại cho bị cáo Đinh Văn N.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Đinh Văn N như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Về án phí: Bị cáo Đinh Văn N là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 03 (Ba) năm, 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 26/5/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Trả lại cho chị Lò Thị H: 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh - đen, số khung JK03E660810, số máy RLHJK0310NY037562, biển kiểm soát 26G1-34…..1, xe đã qua sử dụng cũ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 005675, tên chủ xe Lò Thị H và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự số XB25/0491761 đối với xe có biển kiểm soát 26G1-3….1, chủ xe Lò Thị H.

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) giấy phép lái xe số 330195024355, mang tên Đinh Văn N, cấp ngày 26/11/2019 và 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm không rõ nhãn hiệu, màu sơn đen - xanh, trên mũ có dòng chữ "Drew house", đã qua sử dụng cũ.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành. Mặt trước ghi: "Vỏ gói ban đầu vụ Đinh Văn N, sinh năm 1999 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 26/5/2026 và 01 chiếc mũ bảo hiểm của Công ty TNHH thương mại và đầu tư Tân Hữu Phát, màu sơn hồng

- đen, đã qua sử dụng.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ