- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Trần Quốc C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc C về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con”.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 236/2026/HNGĐ-ST Ngày: 28-8-2026 V/v “Tranh chấp về xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Thúy Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Viết Thành.
2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Cường – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 766/2026/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Quốc C, sinh năm 2002; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: ấp A (nay là ấp C), xã T, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Lê Thị Kiều K, sinh năm 2001; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ thường trú: ấp C, xã C, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện nay: ấp A (nay là ấp C), xã T, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Hồng S, sinh năm 2000; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: ấp B (nay là ấp T), xã C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 25/3/2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Quốc C trình bày:
Năm 2022, anh C và chị Lê Thị Kiều K có quan hệ tình cảm, sống chung với nhau như vợ chồng và có con chung là một bé trai sinh ngày 04/4/2023, hiện chưa được đăng ký khai sinh, tên dự kiến là Trần Quốc K1. Thời điểm cháu K1 được sinh ra, chị K đang trong thời kỳ hôn nhân với anh Đặng Hồng S. Sau đó, chị K và anh S đã ly hôn theo Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực X – Tây Ninh). Hiện tại, anh C và chị K đang sống chung như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn và anh chị là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1.
Để có cơ sở xác định cha cho con, anh C đã yêu cầu Trung tâm xét nghiệm ADN H thuộc Công ty TNHH ADN H tiến hành xét nghiệm ADN giữa anh và cháu K1. Theo Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 21/3/2026 của Trung tâm xét nghiệm ADN H kết luận: Mẫu ADN ký hiệu Trần Quốc C và mẫu ADN ký hiệu Trần Quốc K1 có quan hệ huyết thống Cha – Con, tần suất 99.999999999625%.
Do đó, anh C yêu cầu Tòa án xác định anh là cha ruột của cháu Trần Quốc K1 (tên dự kiến), sinh ngày 04/4/2023.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lê Thị Kiều K trình bày:
Chị K và anh S kết hôn vào năm 2020 và đã ly hôn vào ngày 05/3/2025 theo Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực X - Tây Ninh).
Năm 2022, chị K bắt đầu sống chung vợ chồng với anh C cho đến nay và anh chị có một con chung là cháu Trần Quốc K1 (tên dự kiến), sinh ngày 04/4/2023, theo giấy chứng sinh số 95, quyển số 01/2022 do Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 04/4/2023.
Chị K xác định cháu Trần Quốc K1, sinh ngày 04/4/2023 là con ruột của chị và anh C, không phải con của anh S. Do đó, chị K đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh C.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Hồng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, xét xử vụ án; không có lời khai và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh C.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng và có đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 89, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Quốc C về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”. Xác định anh Đặng Hồng S, sinh năm 2000, không phải là cha ruột của cháu Trần Quốc K1, sinh ngày 04/4/2023. Xác định anh Trần Quốc C, sinh ngày 18/11/2002, là cha ruột của cháu Trần Quốc K1, sinh ngày 04/4/2023.
- Về án phí: Anh Trần Quốc C được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh C số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0010794 ngày 18/5/2026.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Quốc C, bị đơn chị Lê Thị Kiều K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Hồng S vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu xác định cha cho con của nguyên đơn, thấy rằng:
Mặc dù, cháu Trần Quốc K1 (tên dự kiến), sinh ngày 04/4/2023, trong thời kỳ hôn nhân của chị K và anh S. Tuy nhiên, chị K xác nhận cháu K1 là con của chị và anh C, không phải con của anh S. Anh C và chị K đều trình bày thống nhất về quan hệ tình cảm, quá trình sống chung và có con chung với nhau.
Đồng thời, theo Phiếu kết quả phân tích ADN của Trung tâm xét nghiệm ADN H ngày 21/3/2026 kết luận: Mẫu ADN ký hiệu Trần Quốc C và mẫu ADN ký hiệu Trần Quốc K1 có quan hệ huyết thống Cha – Con, tần suất 99.999999999625%. Kết quả phân tích ADN này phù hợp với lời khai của anh C và chị K, là căn cứ khoa học trực tiếp chứng minh quan hệ huyết thống giữa anh C và cháu K1 do chị K sinh vào ngày 04/4/2023. Kết quả này không bị anh S có ý kiến phản đối hay có tài liệu, chứng cứ khác phủ nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định anh Trần Quốc C là cha ruột của cháu Trần Quốc K (tên dự kiến), sinh ngày 04/4/2023 theo quy định tại Điều 89 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì anh C là người yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên nên anh C được miễn nộp tiền án phí.
Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 89, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc C về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con”.
Xác định anh Trần Quốc C, sinh năm 2002, là cha ruột của cháu Trần Quốc K1 (tên dự kiến), giới tính: Nam, sinh ngày 04/4/2023, theo Giấy chứng sinh số 95, quyển số 01/2022 do Trung tâm y tế huyện T (nay là Trung tâm y tế khu vực T), tỉnh Tây Ninh cấp ngày 04/4/2023.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Quốc C được miễn nộp tiền án phí.
Hoàn trả cho anh Trần Quốc C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010794 ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 11 – Tây Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Thúy Liễu |