- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LĐ Bản án số: 236/2023/HS-ST Ngày: 30 - 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Păng Tink Nôck
+ Bà Đỗ Thị Thu H
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị H - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐtham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại Hội trường Ủy ban nhân dân Phường 4, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2023/QĐXXST
- HS ngày 16/10/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn A (tên gọi khác: Tý), sinh năm: 1982, tại: LĐ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ 5, Thôn Xuân Thành, xã X Th, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm vườn; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông: Bùi Văn H, sinh năm: 1946 và bà: Ngô Thị T, sinh năm: 1952; vợ: Nguyễn Thị Kim Ph, sinh năm: 1990 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm: 2008; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 19/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Số 18 M Đ Ch, Phường 4, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.
(Bị cáo có mặt, người chứng kiến vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn A sử dụng ma túy đá từ năm 2021. Để có ma túy sử dụng, vào lúc 13 giờ, ngày 19/4/2023, Aliên hệ với một người tên Bảo (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng thì Bảo đồng ý, giao dịch mua bán tại cầu sắt C L, Phường 5 - ĐL. Sau khi có ma túy, Abỏ gói ma túy này vào trong cốp xe Yamaha Acruzo màu đen BKS 49B1- 4955rồi điều khiển xe về đường Đồng Tâm, Phường 4 - ĐL để tìm bạn. Đến 14 giờ cùng ngày, khi Atới trước nhà số 94/3 Đồng Tâm thì Abị Công an kiểm tra hành chính, Atự giác khai nhận bản thân có cất giữ một gói ma túy trong cốp xe, Công an tiến hành mời đại diện tổ dân phố đến chứng kiến việc kiểm tra cốp xe và phát hiện 01gói nylon màu trắng trong dạng túi zip bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Bùi Văn A khai nhận tại chỗ đó là gói ma túy đá Acất giữ để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn A, thu giữ và niêm phong tang vật theo đúng quy định (BL: 45-46; 56-88; 93-94).
Tang vật thu giữ:
- 01 gói nylon màu trắng trong dạng túi zip bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
- 01 xe mô tô Yamaha Acruzo màu đen, BKS49B1- 4955.
- 01 điện thoại di động Samsung màu đen (BL: 47- 48).
Tại bản kết luận giám định số 460/KL-KTHS ngày 24/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐkết luận:
Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4591 gam.
Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong DAmục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ (BL: 51-54).
Tại bản cáo trạng số 254/CT-VKSĐL ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Bùi Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn A khai nhận, bản thân bị cáo có sử dụng ma túy nên có mua ma túy cất giữ để sử dụng dần. Vào khoảng 14 giờ, ngày 19/4/2023, khi Ađang điều khiển xe mô tô đến đoạn đường Đồng Tâm, Phường 4, Thành phố ĐL, thì bị Công an kiểm tra hành chính, phát hiện, Ađang cất giữ trong cốp xe 01 gói ma túy như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn A từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã qua giám định; tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại đi động hiệu Samsung màu đen của bị cáo dụng để liên lạc mua ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAtụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn A: Vào lúc 13 giờ, ngày 19/4/2023, tại cầu sắt C L, Phường 5, Thành phố ĐL, Bùi Văn A mua của một người tên Bảo (không rõ nhân thân, lai lịch) một gói ma túy với giá 500.000 đồng, rồi bỏ vào cốp xe mô tô Yamaha Acruzo màu đen, BKS 49B1-4955. Đến 14 giờ cùng ngày, khi Ađiều khiển xe tới trước nhà số 94/3 Đồng Tâm, Phường 4, Thành phố ĐL thì bị Công an kiểm tra hành chính, phát hiện Ađang cất giữ 01 gói ma túy trong cốp xe nên đã lập biên bán bắt quả tang thu giữ tang vật. Bị cáo Akhai nhận gói ma túy bị phát hiện thu giữ là của Amua về mục đích để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 460/KL-KTHS ngày 24/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐxác định: Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4591gam (không phẩy bốn năm chín một gam) loại Methamphetamine.
Xét thấy, bị cáo Bùi Văn A là người đã trưởng thành; có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng sử dụng ma túy và để có ma túy sử dụng bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Bùi Văn A không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa pH mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Bùi Văn A phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 254/CT-VKSĐL ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐtruy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với người đàn ông tên Bảo là người đã bán ma túy cho Bùi Văn A, Akhai nhận mua ma túy của Bảo qua số điện thoại 091867881 tuy nhiên, Akhông biết gì về nhân thân lai lịch của người này. Qua xác minh chủ thuê bao số điện thoại trên là của Nguyễn ThAHoàng, sinh năm: 1992, trú tại: Đăng Gia Dệt B, Thị trấn LD, huyện LD, tỉnh LĐ. Tuy nhiên, Hoàng không quen biết và không bán ma túy cho Anh, quá trình điều tra đã tiến hành đối chất, nhận dạng giữa các đối tượng nhưng không chứng minh được việc mua bán ma túy giữa các bên nên không có cơ sở để xử lý là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, qua giám định xác định là chất ma túy, là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại đi động hiệu Samsung màu đen của Anh, là pH tiện bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu, bán sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô Yamaha Acruzo màu đen, BKS 49B1-4955, quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Bùi Thị Thu H. Bà H không có ý kiến yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đế cập xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn A 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam 19/4/2023.
2.Về xử lý vật chứng:Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu tiêu hủy tang vật gồm:
- 02 (hai) phong bì niêm phong, có chữ ký ghi họ tên của Võ Như Thuận, Nguyễn Văn Chiến, Đỗ Minh Quang và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ.
- 01 (một) phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định
- 01 (một) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,1740g
2.2. Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen (đã được niêm phong, không kiểm tra chất lượng bên trong)
(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 11/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Bùi Văn A phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. /.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LĐ(02); - Sở Tư pháp tỉnh LĐ; - VKSND tp. ĐL; - Công an tp. ĐL; - Nhà tạm giữ Công an tp. ĐL; - Chi cục THADS tp. ĐL; - Bị cáo; - Lưu: bộ phận lưu trữ; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Huyền |