- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông V trả lại hiện trạng bờ đi có chiều ngang 03m dài từ tỉnh lộ 873B đến thửa đất số 154, tờ bản đồ số 18 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất …
- Căn cứ chính? Điều 12 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 236/2022/DS-ST Ngày: 23/9/2022 “Yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề ” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Phƣợng.
2. Ông Phan Thanh Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo - thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 295/2020/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244A/2022/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Đinh Văn T, sinh năm 1970; (Có mặt)
- Nguyễn Thị L, sinh năm: 1970; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh T
2. Bị đơn: Võ Văn V, sinh năm 1967; (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp Y, Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh T
3. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị Ánh H, sinh năm: 1965; (Có mặt)
- Chị Võ Thị Hồng C, sinh năm: 1988; (Xin vắng mặt)
- Anh Võ Hồng Đạt A, sinh năm: 2000; (Xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Y, Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh T.
- Chị Võ Hồng Lệ G, sinh năm: 1995; (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Y, Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L cùng trình bày: Ngày 20/4/2020 vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 855,1 m2 thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 18 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 309035, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH02035 do Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông cấp cho ông Đinh Văn H1 ngày 03/3/2014. Cước trang 3 chuyển nhượng cho ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L ngày 20/4/2020. Lối đi từ tỉnh lộ 873B vào phần đất này có chiều ngang 03m, lối đi này là của chủ đất cũ là của ông Trần Văn Đầy (đã chết) qua nhiều đời chuyển nhượng lại cho ông Đinh Văn H1 rồi ông H1 chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông. Sau khi vợ chồng ông nhận chuyển nhượng đất thì ông V tự ý ban bờ lấy phần đường đi làm đất trồng hoa màu. Nên nay ông bà yêu câu ông V trả lại hiện trạng bờ đi có chiều ngang 03m dài từ tỉnh lộ 873B đến phần đất của ông bà.
* Tại bản tự khai và trong suốt quá trình tố tụng bị đơn ông Võ Văn V trình bày: Lối đi đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của ông vì ông đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông chỉ đồng ý mở lối đi có chiều ngang 01m cho vợ chồng anh T, chị L và anh T, chị L trả lại giá trị diện tích đất mở lối đi theo giá chuyển nhượng đất thực tế tại địa phương.
* Tại bản tự khai và trong suốt quá trình tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Ánh H, chị Võ Thị Hồng C, anh Võ Hồng Đạt A, chị Võ Hồng Lệ G cùng trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Võ Văn V.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi. Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến của mình. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan giữa nguyên ý kiến.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Áp dụng điều 169 Bộ luật dân sự đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Quan hệ mà các bên đang tranh chấp là “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất ” được qui định tại điều 169 Bộ luật Dân sự là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 26 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Hồng C, anh Võ Hồng Đạt A, chị Võ Hồng Lệ G có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị Võ Thị Hồng C, anh Võ Hồng Đạt A, chị Võ Hồng Lệ G theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo công văn số 1726/UBND ngày 02/8/2022 của Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông xác nhận giữa hai thửa đất 138 và 155 không có đường đi công cộng, ranh giới quyền sử dụng đất giáp ranh với nhau. Ngoài ra, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 350622, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH04962 do Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông cấp cho hộ ông Võ Văn V ngày 02/12/2014 thì thửa đất 138 được cấp 3943,1 m2 nếu tính luôn phần đất tranh chấp thì thửa đất 138 diện tích chỉ tăng 10,7 m2.
Từ những nhận định nêu trên nên yêu cầu khởi kiện của ông T, bà L không có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về chi phí định giá tài sản và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ phía ông T, bà L không yêu cầu Hội đồng xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T, bà L phải chịu án phí theo quy định.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, 147, 227, 232, 264, 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 12, 166 của Luật đất đai;
- Điều 169 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông V trả lại hiện trạng bờ đi có chiều ngang 03m dài từ tỉnh lộ 873B đến thửa đất số 154, tờ bản đồ số 18 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 309035, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH02035 do Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông cấp cho ông Đinh Văn H1 ngày 03/3/2014. Cước trang 3 chuyển nhượng cho ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L ngày 20/4/2020.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông bà đã nộp theo biên lai thu số 0018177 ngày 15/10/2020 cùa Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông. Ông Đinh Văn T, bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - VKSND huyện Gò Công Đông; - Chi cục THADS huyện Gò Công Đông; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | LÊ THỊ NGUYỆT HỒNG |