vanban.org

Bản án 236/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 23/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ch p nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của b cáo Ph m Minh Kỳ P. Sửa quyết đ nh bản án sơ thẩm về hình ph t.

Ch p nhận một phần kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, về việc áp dụng điều luật không đúng và lãi chậm trả. Cần bổ sung điều luật về trách nhiệm dân sự, sửa l i cách tuyên, án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp. Tuyên bố: B cáo Ph m Minh Kỳ P ph m tội “Vi ph m quy đ nh về điều khi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Kỳ P - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Ch p nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của b cáo Ph m Minh Kỳ P. Sửa quyết đ nh bản án sơ thẩm về hình ph t.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2017/HSPT
Ngày: 23/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Th Mai

Các thẩm phán:

Ông Tô Phú Đông

Ông Huỳnh Thanh Mỹ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ng Ph m Văn Tu n Em – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Ð i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2017, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 210/2017/HSPT ngày 28 tháng 7 năm 2017 đối với b cáo Ph m Minh Kỳ P.

Do có kháng cáo của b cáo và kháng ngh của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện C đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2017/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C.

B cáo có kháng cáo:

PHẠM MINH KỲ P

- Sinh năm 1996.

- HKTT: p Mỹ Đ, xã Mỹ T, huyện C, tỉnh Đ;

- Quốc t ch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

- Nghề nghiệp: Làm thuê;

- Trình độ học v n: 12/12;

- Con ông Ph m Văn Tứ H và con bà Nguy n Th Tuyết H;

- B cáo là con lớn nh t trong gia đình;

- Vợ: Chưa có;

- Tiền án: Không;

- Tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 02/8/2016, b Công an huyện C xử ph t hành chính 1.600.000 đồng; tước gi y phép lái xe 02 tháng kể từ ngày 02/8/2016 đến 02/10/2016 về hành vi vi ph m các quy đ nh về an toàn giao thông đường bộ. Đã đóng tiền ph t ngày 23/9/2016;

- Bắt t m giam: Ngày 28/12/2016;

- Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Đồng Tháp (có mặt t i phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguy n Văn Đ, sinh năm 1998 vắng mặt).

Trú quán: p Rọc N, xã Vĩnh C, huyện T, tỉnh L.

Ngoài ra, trong vụ án đại diện hợp pháp người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.

NHẬN THẤY:

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/8/2016, Ph m Minh Kỳ P điều khiển xe mô tô vi ph m các quy đ nh về an toàn giao thông đường bộ b Công an huyện C xử ph t hành chính 1.600.000 đồng và b tước gi y phép lái xe 02 tháng kể từ ngày 02/8/2016 đến 02/10/2016.

Vào trưa ngày 17/9/2016, Ph m Minh Kỳ P điều khiển xe mô tô biển số 66P1 – 612.39 do Nguy n Văn Đ là chủ sở hửu) lưu thông trên Quốc lộ 30 hướng thành phố C đi An H, trên xe có chở Nguy n Văn Đ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, P điều khiển xe đến ngã tư giao nhau giữa đường Nguy n T và đường 26/3 thuộc khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huyện C. P phát hiện xe mô tô hiệu Dream biển số 51Z4 – 0676 do ông Huỳnh Hữu N điều khiển đang chuyển hướng từ phần đường bên phải sang bên trái hướng An H – thành phố C) để vào chợ Mỹ T. Khi phát hiện xe ông N cách khoảng 20 mét, P cho xe ch y cách lề phải khoảng 1 mét để tránh xe ông N nhưng phần đầu xe 66P1 – 612.39 đụng vào phần lóc máy bên phải xe 51Z4 – 0676 dẫn đến vụ tai n n giao thông. Hậu quả, ông N b ch n thương nặng được người dân đưa đi c p cứu t i bệnh viện Đa khoa Đ, sau đó, chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy - Thành Phố Hồ Chí Minh điều tr . 08 giờ 40 phút ngày 18/9/2016, ông N tử vong. T i biên bản kết luận giám đ nh tử thi số 209 ngày 18/9/2016 của trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận ông Huỳnh Hữu N tử vong do ch n thương sọ não).

Về phía b cáo, P b gãy xương sống mũi, còn Đ b xay xát nhẹ không yêu cầu giám đ nh và không yêu cầu gì thêm.

T i biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai n n giao thông thể hiện: Đo n đường xảy ra tai n n mặt đường rộng 11,60 mét, đường bê tông nhựa, mặt đường khô không trơn trợt, không có chướng ng i vật, đo n giao giữa đường Nguy n T và đường 26/3, đây là khu vực đông dân cư. L y lề phải hướng thành phố Cđi An H làm lề chuẩn, điểm đụng cách lề là 1 mét.

Từ kết quả khám nghiệm hiện trường trên xác đ nh lỗi P điều khiển xe mô tô không giảm tốc độ xe t i nơi đường bộ giao nhau và khu vực có đông dân cư là nguyên nhân chính xảy ra tai n n giao thông vi ph m khoản 3 và khoản 5 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT của Bộ giao thông vận tải quy đ nh về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dụng tham gia giao thông đường bộ.

Đồng thời, t i thời điểm P điều khiển xe gây tai n n đang b tước gi y phép lái xe nên P được coi là điều khiển xe mô tô không có gi y phép lái xe theo quy đ nh và đã vi ph m khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, trong vụ án này, ông Huỳnh Hữu N cũng có một phần lỗi là khi chuyển hướng ông N đã không nhường quyền đi trước cho phương tiện đi ngược chiều và không chú ý quan sát khi chuyển hướng đã vi ph m khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

Phương tiện t m giữ gồm: xe mô tô biển số 66P1 – 612.39 và xe mô tô 51Z4 – 0676 cùng 01 gi y đăng ký xe mang Lê Văn T. Đối với xe mô tô biển số 51Z4 – 0676 qua xác minh được biết do anh Lâm Hữu N mua l i từ anh Nguy n Hữu C nhưng chưa sang tên chủ sở hữu sau đó anh N tặng xe này l i cho ông N và xe này đã được mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty bảo hiểm Bưu điện. Ngày 05/3/2017, Công an huyện C đã trao trả xe mô tô 51Z4 – 0676 cho bà Nguy n Kim H là vợ của ông N và là đ i diện hợp pháp cho ông N và bà H cũng không yêu cầu gì về việc sửa chữa xe. Đồng thời, bà H cũng không yêu cầu công ty bảo hiểm xe tham gia trong giai đo n xử lý vụ án. Do đó, khi nào bà H có yêu cầu Công ty bảo hiểm bồi thường phần trách nhiệm dân sự sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.

Sau khi sự việc xảy ra, bà Nguy n Kim H là đ i diện hợp pháp gia đình ông Huỳnh Hữu N đã yêu cầu P bồi thường các khoản như sau: Tiền viện phí, thuốc điều tr là 1.287.010 đồng; tiền nuôi bệnh là 2.000.000 đồng; tiền xe, bác sĩ chuyển viện là 6.200.000 đồng; tiền ma chay là 85.000.000 đồng; tiền tổn th t tinh thần là 50.000.000 đồng; tiền thu nhập lương giáo viên b m t sau khi ông N chết là 192.000.000 đồng; tiền thu nhập từ bán cà phê sau khi ông N chết là 72.000.000 đồng; tiền c p dưỡng cho em Huỳnh Ngân B sinh ngày 26/3/2001 là con ông N là 90.000.000 đồng. Hiện t i, b cáo Ph m Minh Kỳ P không đồng ý bồi thường theo yêu cầu đ i diện hợp pháp cho b h i mà chỉ đồng ý bồi thường các khoản theo quy đ nh của pháp luật. Do đó, căn cứ vào các quy đ nh của pháp luật để xem xét buộc P bồi thường phần lỗi của mình gây ra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2017/HSST ngày 21/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:

Tuyên bố: B cáo Ph m Minh Kỳ P ph m tội “Vi ph m quy đ nh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 202; Điều 41; Điều 42; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự;

Xöû phaït: Bò caùo Ph m Minh Kỳ P với mức án 05 năm) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày 28/12/2016.

Về trách nhiệm dân sự: Bò caùo Ph m Minh Kỳ P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguy n Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới bồi thường tổng cộng các khoản với số tiền 142.487.000đ cho gia đình người b h i. Đồng thời Bò caùo Ph m Minh Kỳ P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguy n Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới c p dưỡng cho Huỳnh Ngân B sinh ngày 26/3/2001 con của người b h i Huỳnh Hữu N và Nguy n Kim H) bằng số tiền ½ mức lương cơ sở mỗi tháng tương ứng với thời gian thi hành án, thời gian c p dưỡng được tính bắt đầu từ lúc xảy ra tai n n ngày 17/9/2016 cho đến khi Huỳnh Ngân B đủ 18 tuổi.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 42 Bộ luật hình vự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả l i xe mô tô biển số 66P1 - 612.39 và cùng 01 gi y đăng ký xe biển số 66P1 - 612.39 mang Lê Văn T cho Nguy n Văn Đ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 21 tháng 6 năm 2017, b cáo Ph m Minh Kỳ P có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình ph t.

Ngày 04 tháng 7 năm 2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C có văn bản kháng ngh số 01/QĐ-VKS, theo hướng:

- Bỏ áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự trong phần quyết đ nh hình ph t đối với b cáo Ph m Minh Kỳ P.

- Bổ sung Điều 590, Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 để tuyên về trách nhiệm bồi thường thiệt h i.

- Áp dụng các Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 để tuyên về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền và lãi su t theo quy đ nh.

- Sửa phần xử lý vật chứng: Tiếp tục quản lý xe mô tô biển số 66P1-612.39 cùng gi y đăng ký xe 66P1-612.39 để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của đ i diện Viện kiểm sát Tỉnh, đề ngh : Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự. Ch p nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của b cáo Ph m Minh Kỳ P, đề ngh giảm cho b cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù. Ch p nhận kháng ngh của Viện trưởng VKSND huyện C về áp dụng điều luật và xử lý vật chứng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra t i phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đ i diện Viện kiểm sát, lời khai b cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

B cáo Ph m Minh Kỳ P là người có gi y phép lái xe, nhưng do b cáo vi ph m nên Công an huyện C xử ph t hành chính 1.600.000 đồng và tước gi y phép lái xe 02 tháng kể từ ngày 02/8/2016 đến 02/10/2016. Trong thời gian b tước gi y phép thì vào trưa ngày 17/9/2016, b cáo điều khiển xe mô tô biển số 66P1 – 612.39 xe của anh Nguy n Văn Đ) có dung tích xi lanh 110cc lưu thông trên Quốc lộ 30 hướng thành phố C đi An H, trên xe có chở anh Đ phía sau. B cáo gây tai n n cho ông Huỳnh Hữu N điều khiển đang chuyển hướng từ phần đường bên phải sang bên trái để vào chợ Mỹ Thọ. Trong khi mặt đường nơi xảy ra tai n n rộng 11,60 mét, điểm đụng tính từ lề phải hướng thành phố Cao Lãnh đi An Hữu là 1 mét. Lỗi gây ra tai n n dẫn đến ông N tử vong là do lỗi của b cáo gây ra.

Hành vi ph m tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, b cáo nhận biết được người điều khiển phương tiện giao thông phải ch p hành đúng theo luật giao thông qui đ nh. B cáo điều khiển xe đã nhìn th y ông N cách 20 mét. Nhưng b cáo không giảm tốc độ và thắng xe b hư nên đâm thẳng vào xe ông N. Bản thân b cáo đang b tước gi y phép mà vẫn điều khiển phương tiện giao thông và gây ra tai n n gây cái chết thương tâm cho người b h i. Ngoài ra hành vi ph m tội của b cáo còn gây m t trật tự tr an ở đ a phương. Do đó cần có thời gian cải t o giáo dục b cáo và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.

Án sơ thẩm xử b cáo về tội “Vi ph m qui đ nh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự, là có căn cứ. Nhưng xét th y tai n n giao thông xảy ra là ngoài ý muốn của b cáo, khi ph m tội b cáo chưa có tiền án, bồi thường một phần dân sự, có ông bà nội tham gia Cách M ng, người b h i có một phần lỗi qua đường không quan sát. Mặc dù các tình tiết giảm nhẹ của b cáo án sơ thẩm đã nhận đ nh xem xét và t i phiên tòa phúc thẩm b cáo không xu t trình tình tiết mới. Nhưng xét th y mức hình ph t án sơ thẩm xử b cáo là nghiêm khắc. Do đó, ch p nhận kháng cáo xin giảm hình ph t của b cáo sửa quyết đ nh bản án sơ thẩm về hình ph t là phù hợp với đề ngh của đ i diện Viện kiểm sát.

Xét kháng ngh của Viện trưởng VKSND huyện C, về việc bỏ Điều 41, Điều 42, khi quyết đ nh hình ph t là có căn cứ, vì án sơ thẩm tuyên dư điều luật.

Về trách nhiệm dân sự: Theo kháng ngh của Viện trưởng VKSND huyện C đề ngh bổ sung Điều 590, Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 để tuyên trách nhiệm bồi thường thiệt h i. Áp dụng các Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 để tuyên về trách nhiệm chậm nghĩa vụ thực hiện trả tiền và lãi su t theo qui đ nh. Xét th y Viện trưởng đề ngh áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 để tuyên trách nhiệm bồi thường thiệt h i. Nhưng trong vụ án này người b h i chết nên phải áp dụng Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 mới phù hợp. Do đó không ch p nhận kháng ngh cũng như phần đính chính sửa chữa bổ sung kháng ngh .

- Về xử lý vật chứng: Án sơ thẩm tuyên: Căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả l i xe mô tô biển số 66P1 - 612.39 cùng gi y đăng ký xe biển số 66P1

- 612.39 mang Lê Văn T cho Nguy n Văn Đ. Nhưng do anh Đ chưa thực hiện xong nghĩa vụ dân sự nên cần quản lý để bảo đảm thi hành án. Án sơ thẩm không tuyên lãi chậm trả vào phần quyết đ nh là thiếu sót, Viện kiểm sát không kháng ngh , nhưng cũng cần bổ sung cho phù hợp theo pháp luật qui đ nh t i khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra trong phần quyết đ nh tuyên trách nhiệm dân sự tuyên chưa rõ ràng về người nhận, không tuyên số tiền b cáo đã nộp t i Chi cục thi hành án dân sự vào phần quyết đ nh và tính án phí chưa đúng. Nhưng Viện trưởng VKSND huyện C l i không kháng ngh phần này. Hội đồng xét xử c p phúc thẩm xét th y cần sửa l i cách tuyên cho rõ ràng phù hợp pháp luật và tính án phí dân sự sơ thẩm cho đúng theo qui đ nh của pháp luật.

Các phần khác của quyết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng ngh .

Do kháng cáo của b cáo được ch p nhận nên không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Ch p nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của b cáo Ph m Minh Kỳ P. Sửa quyết đ nh bản án sơ thẩm về hình ph t.

Ch p nhận một phần kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, về việc áp dụng điều luật không đúng và lãi chậm trả. Cần bổ sung điều luật về trách nhiệm dân sự, sửa l i cách tuyên, án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp.

Tuyên bố: B cáo Ph m Minh Kỳ P ph m tội “Vi ph m quy đ nh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự;

Xử ph t: B cáo Ph m Minh Kỳ P 04 (bốn) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày 28/12/2016.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 591, Điều 601, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc b cáo Ph m Minh Kỳ P và anh Nguy n Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới bồi thường tiền tổng cộng các khoản chi phí điều tr , mai táng, tổn th t tinh thần số tiền là 142.487.000 đồng Một trăm bốn mươi hai triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn đồng) nhưng trừ đi 1.000.000 đồng đã nộp khắc phục theo biên lai số 010927 ngày 03/5/2017 t i Chi cục thi hành án dân sự huyện C. B cáo Ph m Minh Kỳ P và anh Nguy n Văn Đ còn phải tiếp tục liên đới bồi thường số tiền 141.487.000 đồng Một trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn đồng) cho đ i diện gia đình người b h i ch Nguy n Kim H nhận.

Buộc b cáo Ph m Minh Kỳ P và anh Nguy n Văn Đ phải liên đới c p dưỡng cho cháu Huỳnh Ngân B, sinh ngày 26/3/2001 con của anh Huỳnh Hữu N và ch Nguy n Kim H) số tiền bằng ½ mức lương cơ sở mỗi tháng mức lương tính theo từng thời điểm), thời gian c p dưỡng được tính từ ngày 17/9/2016 cho đến khi cháu Huỳnh Ngân B đủ 18 tuổi, do ch Nguy n Kim H là người đ i diện nhận thay.

Sau khi bản án có hiệu lực, b cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chậm thi hành án số tiền trên thì còn phải ch u lãi su t theo quy đ nh t i khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tiếp tục quản lý xe mô tô 02 bánh, biển kiểm soát 66P1-612.39, số máy 2FMH00183819, số khung HPUM5H183819, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra được ch t lượng bên trong của xe và 01 gi y gi y đăng ký xe 66P1-612.39 mang tên Lê Văn T Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý) để bảo đảm thi hành án cho anh Nguy n Văn Đ.

Tiếp tục quản lý số tiền 1.000.000đ gia đình b cáo nộp vào ngày 03/5/2017 theo biên lai số 010927 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, để bảo đảm thi hành án cho b cáo.

Các phần khác của quyết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng ngh .

Về án phí: B cáo Ph m Minh Kỳ P không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm. B cáo và anh Nguy n Văn Đ phải liên đới nộp 7.074.350đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM N nh n:

t

Cỡ chữ