vanban.org

Bản án 235/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 30/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Van T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2024/HS-PT
Ngày 30 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Thẩm phán: Ông Y Thông Kbuôr, bà Lưu Thị Thu Hường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Công Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 247/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 283/2024/HS-ST, ngày 24 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 01 năm 1958, tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi đăng ký thường trú: Số 15/15B Nguyễn Gia T , tổ dân phố X, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Xe ôm; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn P và con bà Cao Thị B (đều đã chết); bị cáo có vợ là Trương Thị L, sinh năm 1962 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1992. Tiền sự: Không

Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 19/6/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 155/2023/HSST.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/02/2023 đến ngày 16/02/2023, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T đã có 01 tiền án về tội Đánh bạc, chưa được xóa án tích. Vào khoảng 15 giờ ngày 13/05/2024, T làm công việc lái xe ôm công nghệ (Grab) điều khiển xe mô tô đến cổng Bến xe liên tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: 71 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để chờ đón khách. Tại đây, T gặp Trần Văn C làm nghề lái xe cho hãng Taxi M và Ngô Quốc D làm nghề lái xe ôm công nghệ cũng đang chờ khách tại cổng Bến xe liên tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, T, C và D cùng rủ nhau tham gia chơi đánh bạc cá cược được thua bằng tiền, thì tất cả đồng ý và cùng nhau lên xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Grand i10, biển số 47A-292.28 ngồi, trong đó C ngồi ghế lái xe, D ngồi ghế phụ phía trước và T ngồi ghế phía sau. Sau đó, T dùng điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG của mình tải ứng dụng “Bau Cua 2024” để chơi bầu cua được thua bằng tiền và đưa điện thoại cho C để làm nhà cái. C đặt điện thoại trên ngăn để đồ của xe để D và T cùng nhìn thấy. Cả ba thống nhất đánh bạc dưới hình thức chơi bầu cua được thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Quá trình đánh bạc, T và D đặt cược vào các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai, sau khi đã đặt cược xong thì C bấm nút “xóc”, sau đó bấm nút “mở” trên màn hình, nếu hiển thị các hình mà D và T đã đặt cược trước đó thì C thua với số tiền cá cược tương ứng, nếu trùng 02 hoặc 03 hình đã đặt cược thì trúng cược gấp 02 hoặc 03 lần số tiền cược, nếu không trùng với các hình đã đặt cược thì D và T thua cược. Khi tham gia đánh bạc, T mang theo số tiền 90.000 đồng, C mang theo số tiền 120.000 đồng; D mang theo số tiền 200.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi T, C và D đang cùng nhau đánh bạc dưới hình thức chơi Bầu cua thắng thua bằng tiền thì bị Công an phường T phát hiện quả tang. Tạm giữ tổng số tiền 410.000 đồng (trong đó: tạm giữ của D số tiền 160.000 đồng; của C số tiền 20.000 đồng; của T số tiền 230.000 đồng). Tạm giữ của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại Galaxy A04, số imei: 351890418138821; tạm giữ của Trần Văn C 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Grand i10, biển số 47A-292.28. Đến ngày 16/5/2024, Công an phường T chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan điều tra tạm giữ 01 bản chính giấy chứng nhận kiểm định, số EB 0201943, biển đăng ký 47A-292.28, cấp ngày 19/01/2024; 01 bản chính Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, biển số 47A-292.28, của Công ty bảo hiểm bưu điện KV TN cấp ngày 03/08/2023; 01 bản chính giấy biên nhận thế chấp do Ngân hàng TMCP S (SHB) cấp ngày 03/4/2024 cho xe ô tô biển số 47A-292.28; 01 bản chính hợp đồng thuê xe số 502/2024/HĐTX và 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe số 053213, biển số 47A-292.28 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 06/8/2019, để phục vụ công tác điều tra.

Hình thức chơi xóc bầu cua như sau: Người làm cái sử dụng 01 chiếc điện thoại di động loại cảm ứng, tải ứng dụng “Bau cua 2024”, khi mở ứng dụng trên màn hình điện thoại sẽ hiển thị 06 ô có hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai và 03 viên xúc xắc gồm 06 mặt in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai. Người làm cái bấm vào nút “Xóc” thì máy sẽ tự động xóc 03 viên xúc xắc và được che đi để giữ kết quả. Người chơi sẽ đặt cược tiền vào các ô hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai, có thể đặt tiền vào một hoặc nhiều ô mà mình muốn trong một lượt chơi. Khi đặt cược xong, người làm cái bấm vào nút “mở” trên màn hình và công bố kết quả, xác định thắng thua. Nếu 03 viên xúc xắc xuất hiện hình mà người chơi đặt cược tiền thì người chơi sẽ thắng được số tiền tương ứng với số lượng hình đã đặt cược xuất hiện nhân với số tiền đặt cược. Ví dụ: Người chơi đặt cược 10.000 đồng vào hình con cua, 03 viên xúc xắc xuất hiện 01 hình con cua thì người làm cái chung cho người chơi 10.000 đồng, 02 con cua thì người làm cái chung 20.000 đồng, 03 con cua thì người làm cái chung 30.000 đồng và người chơi được nhận số tiền mình đặt cược. Nếu hình người chơi đặt cược không xuất hiện thì người làm cái thắng số tiền đặt cược của người chơi.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 283/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 BLHS, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 155/2023/HSST, ngày 19/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai Bản án là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ chấp hành án; Khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/02/2023 đến ngày 16/02/2023 của Bản án 155/2023/HSST ngày 19/6/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung Bản cáo trạng và Bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 283/2024/HSST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại khu vực trước Bến xe liên tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ 71 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Văn T (là người có tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích) có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua trên điện thoại di động cùng Trần Văn C và Ngô Quốc D sử dụng số tiền đánh bạc là 410.000 đồng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng: Mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền dùng để đánh bạc chỉ 90.000 đồng và số tiền thu tại sòng chỉ có 410.000 đồng, quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người cao tuổi (66 tuổi), có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 283/2024/HS-ST, ngày 24 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù về tội “ Đánh bạc”.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 155/2023/HSST, ngày 19/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai Bản án là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ chấp hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/02/2023 đến ngày 16/02/2023 của Bản án 155/2023/HSST ngày 19/6/2023.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ