vanban.org

Bản án 235/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2022/HS-PT
Ngày 21-9-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương;

Các Thẩm phán:

Ông Trương Văn Lộc;

Ông Lê Sỹ Trứ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và 21 tháng 9 năm 2022, t i Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 144/2022/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2022/HS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn H (tên gọi khác D), sinh năm 1978, t i tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Phan Thị T; có vợ là bà Nguyễn Thị C và 02 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/9/2021 đến nay; có mặt.

Trong vụ án còn có 01 bị cáo và 08 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 24/4/2021, Nguyễn Thị Mỹ T điều khiển xe mô tô biển số 92F7-3813 đi bán vé số thì gặp Lê Văn R đang uống cà phê t i quán nước của bà Nguyễn Thị Ngọc Pc (địa chỉ: ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương). T i đây, T đã ghi đề số 375 bao lô 3.000 đồng bán cho Lê Văn Rê với số tiền 45.000 đồng thì bị Công an xã T phát hiện lập biên bản mời về trụ sở Công an xã làm việc. Quá trình làm việc, Nguyễn Thị Mỹ T khai nhận sau khi bán được số đề sẽ chuyển giao cho Nguyễn Văn H. Công an xã T tiến hành mời Nguyễn Văn H làm việc thì phát hiện H đang tính số tiền bán đề trong quyển vở học sinh. Đồng thời, tiến hành kiểm tra điện tho i di động thuê bao số 0332.384.772 của H đang sử dụng thì phát hiện có tin nhắn thể hiện việc mua bán số đề gửi đến số thuê bao 0961.185.270 lưu tên “Anh Hai” nên Công an xã lập biên bản t m giữ.

Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Văn H đã bán số đề thông qua tin nhắn điện tho i thuê bao số 0332.384.772 của Hiệp và bán trực tiếp cho các con b c cụ thể như sau:

* Theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh, thành miền Nam (đài Miền Nam).

- Bán số đề cho Võ Văn Tr:

Ngày 13/4/2021, Hiệp bán số đề cho T theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng số tiền là 930.000 đồng; sau khi có kết quả, T không trúng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 930.000 đồng.

Ngày 15/4/2021, H bán số đề cho T theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh với tổng số tiền là 730.000 đồng; sau khi có kết quả, T thắng được số tiền 700.000 đồng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 1.430.000 đồng.

Ngày 18/4/2021, H bán số đề cho T theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tiền Giang với tổng số tiền là 560.000 đồng; sau khi có kết quả, T thắng được số tiền 700.000 đồng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 1.260.000 đồng.

Ngày 19/4/2021, H bán số đề cho T theo kết quả xổ số kiến thiết thành phố Hồ Chí Minh với tổng số tiền là 280.000 đồng; sau khi có kết quả, Trung không trúng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 280.000 đồng.

Ngày 22/4/2021, H bán số đề cho T theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh với tổng số tiền là 560.000 đồng; sau khi có kết quả, Trung thắng được số tiền 8.400.000 đồng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 8.960.000 đồng.

Ngày 23/4/2021, H bán số đề cho T theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bình Dương với tổng số tiền là 560.000 đồng; sau khi có kết quả, Trung thắng được số tiền 700.000 đồng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 1.260.000 đồng.

- Trong ngày 23/4/2021 dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bình Dương thì Nguyễn Văn H còn bán số đề cho:

Võ Thị Mỹ H với tổng số tiền 1.133.000 đồng; sau khi có kết quả, H không trúng. Như vậy, số tiền H sử dụng để đánh b c là 1.133.000 đồng

Nguyễn Thị Mỹ T với tổng số tiền là 856.000 đồng; sau khi có kết quả, Trang thắng được số tiền 1.750.000 đồng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 2.606.000 đồng.

Trương Văn Ú với tổng số tiền là 168.000 đồng; sau khi có kết quả, Ú thắng được số tiền 140.000 đồng. Như vậy, số tiền Ú sử dụng để đánh b c là 308.000 đồng.

Nguyễn Văn T với tổng số tiền là 312.000 đồng; sau khi có kết quả Tkhông trúng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 312.000 đồng.

Nguyễn Ngọc T với tổng số tiền là 280.000 đồng; sau khi có kết quả, Tưởng không trúng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 280.000 đồng.

Nguyễn Minh V với tổng số tiền 56.000 đồng; sau khi kết quả, Vương không trúng. Như vậy, số tiền V sử dụng để đánh b c là 56.000 đồng.

Từ đó, xác định ngày 23/4/2021, Nguyễn Văn H đã bán số đề cho Võ Văn T, Võ Thị H, Nguyễn Thị Mỹ T, Trương Văn Ú, Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Minh V theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bình Dương với tổng số tiền sử dụng để đánh b c là 5.955.000 đồng.

* Theo kết quả xổ số kiến thiết Thủ Đô

- Ngày 23/4/2021, Nguyễn Văn H đã bán số đề cho:

Nguyễn Thị Mỹ T với tổng số tiền 400.000 đồng; sau khi có kết quả, Trang không trúng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 400.000 đồng.

Trương Văn Út với tổng số tiền 126.000 đồng; sau khi có kết quả, Út thắng được số tiền 1.500.000 đồng. Như vậy, số tiền Út sử dụng để đánh b c là 1.626.000 đồng.

Võ Thị Mỹ H với tổng số tiền 765.000 đồng; sau khi có kết quả, Hthắng được số tiền 1.200.000 đồng. Như vậy, số tiền H sử dụng để đánh b c là 1.965.000 đồng. H đã đưa số tiền 500.000 đồng cho Nguyễn Thị C (vợ của Nguyễn Văn H).

Từ đó xác định ngày 23/4/2021, Nguyễn Văn H đã bán số đề cho Nguyễn Thị Mỹ T, Trương Văn Ú, Võ Thị H, theo kết quả xổ số kiến thiết Thủ Đô với tổng số tiền sử dụng để đánh b c là 3.991.000 đồng.

Trong ngày 23/4/2021, theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thị Mỹ T bán số đề trực tiếp Lê Văn R với tổng số tiền 140.000 đồng; sau khi có kết quả, R không trúng. Như vậy, số tiền R sử dụng để đánh b c là 140.000 đồng.

Đối với các số đề mà Nguyễn Văn H khai đã bán cho người tên H, người tên H không rõ nhân thân, lai lịch theo kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh Bình Dương và xổ số kiến thiết Thủ đô vào ngày 23/4/2021. Đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch của H và H. Do đó, không có căn cứ để tính số tiền sử dụng để đánh b c của H và H trong vụ án.

Ngày 11/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Văn H, Võ Văn T về tội “Đánh b c” quy định t i khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi ghi số đề của Nguyễn Thị Mỹ T, Nguyễn Minh Vương, Võ Thị Mỹ H, Nguyễn Ngọc T, Trương Văn Ú, Nguyễn Văn T chưa cấu thành tội ph m. Công an huyện B đã quyết định xử ph t vi ph m hành chính mỗi đối tượng 350.000 đồng.

Riêng đối với hành vi ghi số đề của Lê Văn R; Lê Văn R đã chết ngày 29/11/2021 nên không xem xử lý.

Đối với Nguyễn Thị C (vợ của Nguyễn Văn H) đã nhận 500.000 đồng tiền mua số đề của Võ Thị Mỹ H rồi đưa l i cho Nguyễn Văn H, bà C không biết đây là tiền mua số đề nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người tên H không rõ nhân thân l i lịch sử dụng điện tho i số thuê bao 0386.328.670. Qua tra cứu xác minh số thuê bao trên là do Nguyễn Hữu H (sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) đăng ký chủ thuê bao, Nguyễn Hữu H không có mặt t i địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Đối với người tên H không rõ nhân thân l i lịch sử dụng điện tho i có thuê bao số 0392.679.110. Qua tra cứu xác minh số thuê bao trên là do Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) đăng ký chủ thuê bao, Nguyễn Thị Thu H không có mặt t i địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

Đối với người sử dụng số thuê bao 0961.185.270 mà bị cáo Nguyễn Văn H lưu tên “Anh Hai”. Qua tra cứu xác minh số thuê bao trên là do Lê Thị Tuyết N (sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú: xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai) đăng ký chủ thuê bao. Lê Thị Tuyết N khai nhận không có đăng ký sử dụng thuê bao nói trên. Làm việc với Nguyễn Hoàng H (tên gọi khác: Hải Què, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú: ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương) thì Nguyễn Hoàng H không sử dụng thuê bao di động nói trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

Đối với người thiếu niên khoảng 15 tuổi không rõ nhân thân lai lịch đã đưa số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) cho bị cáo Nguyễn Văn H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

Đối với người tên Ch y không rõ nhân thân l i lịch, mua số đề của Nguyễn Thị Mỹ T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc T, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

Tổng cộng số tiền các bị cáo tham gia đánh b c là 37.917.000 đồng (ba mươi bảy triệu chín trăm mười bảy nghìn đồng).

Cáo tr ng số: 15/CT-VKS ngày 10/02/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H và Võ Văn T về tội “Đánh b c” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2021/HS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1. Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Văn H và Võ Văn T ph m tội “Đánh b c”.

2. Về áp dụng điều luật và hình ph t:

2.1. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác D) 09 (chín) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo Võ Văn T (tên gọi khác là T) số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 05/4/2022, bị cáo Nguyễn Văn H làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin được hưởng án treo.

Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ gì mới, mức hình ph t cấp sơ thẩm xử ph t là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H được thực hiện trong thời h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi ph m tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: ngày 22/4/2021, H bán số đề cho Võ Văn T theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh với tổng số tiền là 560.000 đồng; sau khi có kết quả, T thắng được số tiền 8.400.000 đồng. Như vậy, số tiền T sử dụng để đánh b c là 8.960.000 đồng. Ngày 23/4/2021, Nguyễn Văn H đã bán số đề cho Võ Văn T, Võ Thị H, Nguyễn Thị Mỹ T, Trương Văn Ú, Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Minh V theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bình Dương với tổng số tiền sử dụng để đánh b c là 5.955.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh, khung hình ph t và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin hưởng án treo của bị cáo, xét thấy: bị cáo tuy ph m tội 02 lần trở lên nhưng đều là tội ph m ít nghiêm trọng, bị cáo tham gia vụ án với vai trò đồng ph m giúp sức, giao l i phơi đề cho người khác để hưởng hoa hồng, có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo.

[4] Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị là chưa phù hợp với phân tích nêu trên nên không được chấp nhận.

[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2021/HS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình ph t.

1.1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H ph m tội “Đánh b c”.

1.2. Về áp dụng điều luật và hình ph t:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (21/9/2022). Giao bị cáo Nguyễn Văn H về cho Ủy ban nhân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi ph m nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình ph t của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ