vanban.org

Bản án 235/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận: VKSND huyện Long Thành; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chap ly hon giưa bà Phan Thị V và bị đơn ông Nguyễn Đức C"
  • Tòa quyết gì? TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30-11-2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Nam

Ông Phạm Văn Huynh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 748/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị V, sinh năm 1992 Địa chỉ: 29 Trần Phú, thị trấn H, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hoà.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1990 Hộ khẩu thường trú: T, thị trấn H, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hoà. Địa chỉ tạm trú: hẻm 789, ấp H1, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

(Đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Thị V trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Đức C tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2014, quyển số 02/2014 ngày 04/7/2014. Vợ chồng tôi kết hôn hơn 08 năm, nhưng đã ly thân được 06 năm. Đã xảy ra rất nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân, hiện tại đã không còn tình cảm gì với nhau. Nay tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi ly hôn với ông Nguyễn Đức C. Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Nguyễn Thị Q, sinh ngày 24/01/2015. Ly hôn tôi yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

- Tại Bản tự khai đề ngày 07/11/2022, bị đơn ông Nguyễn Đức C trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Phan Thị V kết hôn với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Khi đăng ký kết hôn cả hai đều tự nguyện. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng không hòa thuận và hạnh phúc. Tôi và chị Phan Thị V bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ tháng 9/2019, nguyên nhân mâu thuẫn giữa tôi và chị V là tính cách không hợp nhau, không tôn trọng nhau, không chung thuỷ với nhau do tôi phải đi làm ở xa lâu lâu mới về thăm vợ con được. Từ khi phát sinh mâu thuẫn tôi sống ở Long Thành, Đồng Nai, còn chị V sống ở Khánh Sơn, Khánh Hoà; tôi không quan tâm gì đến chị V. Nay tôi xác định tình cảm giữa tôi và chị Phan Thị V không còn. Chị V xin ly hôn thì tôi đồng ý ly hôn. Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Nguyễn Thị Q, sinh ngày 24/01/2015. Hiện nay cháu đang sống với chị V tại Khánh Hoà. Sau khi vợ chồng ly hôn con sẽ ở với mẹ là Phan Thị V, không cần cấp dưỡng. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: không có.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị V. + Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Đức C. + Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Q, sinh ngày 24/01/2015 cho bà Phan Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau ly hôn. Tạm thời ông Nguyễn Đức C không phải cấp dưỡng nuôi con. + Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. + Về án phí: Bà V phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phan Thị V và bị đơn ông Nguyễn Đức C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà V và ông C. [2] Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. [3] Về nội dung: [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị V và bị đơn ông Nguyễn Đức C tự nguyện đăng ký kết hôn, được UBND xã D, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35/2014, quyển số 02/2014 ngày 04/7/2014. Căn cứ Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xác định hôn nhân giữa bà Phan Thị V và ông Nguyễn Đức C là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn bà Phan Thị V khởi kiện yêu cầu ly hôn với lý do tình trạng hôn nhân giữa bà và ông C là trầm trọng, xảy ra rất nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân, hai người đã sống ly thân được 06 năm. Bà V xác định không còn tình cảm với ông C và yêu cầu xin ly hôn với ông C. Bị đơn ông Nguyễn Đức C thừa nhận tình trạng hôn nhân của hai người theo như bà V trình bày, ông C đồng ý ly hôn với bà V. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; Vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, đã sống ly thân, không muốn hàn gắn đoàn tụ cũng như cả hai đều có nguyện vọng ly hôn. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị V về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Đức C. [3.2] Về con chung: Bà V và ông C có 01 con chung là Nguyễn Thị Q, sinh ngày 24/01/2015, hiện nay con chung đang do bà V nuôi dưỡng. Bà V và ông C đã thống nhất ly hôn bà V là trực tiếp nuôi dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận giao con chung cho bà V nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Do không có yêu cầu, nên tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con. [3.3] Về tài sản chung: Bà V và ông C xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không xem xét, giải quyết. [3.4] Về nợ chung: Bà V và ông C xác định không có nợ chung. Nên không xem xét, giải quyết. [4] Về án phí: Bà Phan Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định. [5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 9, Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Thị V. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Đức C. 2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Q, sinh ngày 24/01/2015 cho bà Phan Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời ông Nguyễn Đức C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Nguyễn Đức C có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông C thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. 4. Về án phí: Bà Phan Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà V đã nộp, theo Biên lai thu số 0006222 ngày 12/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà V phải chịu. Bà V đã nộp xong. 5. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND huyện Long Thành;

- Chi cục THADS huyện Long Thành;

- UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;

- Lưu.

Phạm Ngọc Quyền

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Nam Phạm Văn Huynh

Phạm Ngọc Quyền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ