- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn X1 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn X1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 235/2021/HS-ST Ngày: 08-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành
Ông Trần Văn Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định - tỉnh Nam Định, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 223/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Văn X1, sinh năm 1988; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn X, xã Z, huyện A, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thế V và bà Mai Thị X; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Ông Đặng Hữu N, sinh năm 1953, địa chỉ: Số nhà X, phường Z, thành phố A, tỉnh Nam Định (đã chết).
- Những người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1959 (vợ của ông Đặng Hữu N); có mặt
2. Anh Đặng Phương T, sinh năm 1984 (con của ông Đặng Hữu N); có mặt
Cùng cư trú: Số nhà X, phường Z, thành phố A, tỉnh Nam Định
3. Chị Đặng Phương Th, sinh năm 1986 (con của ông Đặng Hữu Na); nơi cư trú: Số nhà X, phường Z, thành phố A, tỉnh Nam Định; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ ngày 11-6-2021 Phạm Văn X1 (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải BKS: 30L – XX do anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ 16, thị trấn X, huyện Z, tỉnh Nam Định thuê chở 10 máy trộn vữa và 12 cốp pha xây dựng trên thùng xe xuất phát từ xã X, huyện Z đến huyện H, tỉnh Thái Bình. H điều khiển xe ô tô tải BKS: 30L – XX di chuyển trên quốc lộ 21B là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, giữa đường có giải phân cách cứng phân chia thành hai chiều đường riêng biệt. Ở mỗi chiều đường có 03 làn đường, trong đó 02 làn đường dành cho xe cơ giới được phân chia bằng vạch sơn màu trắng kẻ đứt đoạn. Làn xe thô sơ giáp lề đường được phân chia với làn xe cơ giới bằng vạch sơn màu trắng liền mạch; Khoảng 05 giờ 35 phút, khi đến điểm giao cắt giữa quốc lộ 21B với đường trục xã Nam Phong, thành phố Nam Định (Km104+500) hướng đường Lê Đức Thọ đến cầu Tân Phong. Lúc này là thời điểm buổi sáng sớm trời sáng, mặt đường khô, tầm nhìn không bị che khuất, mật độ phương tiện tham gia giao thông vắng. Do chủ quan đường vắng H điều khiển xe ô tô di chuyển tại làn xe cơ giới ngoài cùng, bên trái của chiều đường bên phải theo hướng đi, cách mép đường bên phải khoảng 6m, cách dải phân cách cứng giữa đường khoảng 1m với tốc độ khoảng 60km/h và điều khiển xe di chuyển thẳng vào khu vực đường giao nhau và chỉ quan sát phía trước mà không chú ý quan sát bên trái theo hướng di chuyển của H. Khi H điều khiển xe vào khu vực giao nhau khoảng 5m mới quan sát thấy ông Đặng Hữu N, sinh năm: 1953; trú tại: Số nhà X, phường Z, thành phố A, tỉnh Nam Định (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe máy BKS: 18Z7 – XX đã di chuyển trong khu vực đường giao nhau được khoảng 15m, hướng từ UBND xã N đến thôn N, xã Z, thành phố A (từ trái sang phải theo hướng di chuyển của xe ô tô H điều khiển), với tốc độ khoảng 20-30km/h và cách xe H khoảng 5m. Do khoảng cách quá gần H chỉ kịp đánh lái xe ô tô sang phải và đạp phanh, tuy nhiên xe ô tô tải BKS: 30L – XX do H điều khiển vẫn trượt về phía trước, phần chắn đà phía trước xe ô tô xô vào mặt ngoài càng xe bên phải, yếm chắn gió bên phải xe máy BKS: 18Z7 – XX do ông N điều khiển, vai phải và phần đầu bên phải ông N làm người và xe máy đổ ra đường. Sau va chạm, theo quán tính xe ô tô do H điều khiển đẩy trượt rê xe máy và ông N khoảng 12m trên đường trước đầu xe ô tô. H xuống xe gọi xe cấp cứu ông N tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định nhưng đến 08 giờ cùng ngày ông Đặng Hữu N đã tử vong.
Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Đội tuần tra kiểm soát giao thông số 2 thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ trên quốc lộ 21B đã kiểm tra nồng độ cồn lái xe, kết quả: nồng độ cồn 0.000mg/L; Ghi nhận dấu vết hiện trường vụ tai nạn, tạm giữ Phạm Văn X1 và hai phương tiện, sau đó bàn giao Công an thành phố Nam Định thụ lý. Tiếp nhận hồ sơ ban đầu vụ việc, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã phối hợp cùng Đội tuần tra kiểm soát giao thông, Viện kiểm sát nhân dân thành phố và các cơ quan chức năng tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xe ô tô tải BKS: 30L – 2313, xe máy BKS: 18Z7 – XX. Kết quả khám nghiệm cho thấy:
+ Vết phanh xe ô tô tải BKS: 30L – XX kích thước (0,45 x 22)m. Điểm đầu cách mép đường bên phải quốc lộ 21B (mép đường chuẩn) là 5,5m; cách cột mốc 5,8m; cách tâm khu vực giao nhau 14,3m. Điểm cuối trùng vị trí bánh trước bên phải xe ô tô tải cách mép đường chuẩn là 1m. Hướng vết phanh từ đường Lê Đức Thọ đến cầu Tân Phong dạng vòng cung từ trái sang phải.
+ Vết cày của xe máy BKS: 18Z7 – XX kích thước (1 x 11)m. Điểm đầu cách mép đường chuẩn 5,4m; cách điểm đầu vết phanh xe ô tô tải 12,6m; cách tâm ngã tư 6,4m. Điểm cuối vết cày trùng giá để chân trái xe máy cách mép đường chuẩn 1,3m. Hướng vết cày từ đường Lê Đức Thọ đến cầu Tân Phong dạng vòng cung từ trái sang phải.
+ Xe ô tô tải BKS: 30L – XX đầu xe hướng cầu Tân Phong, đuôi xe hướng đường Lê Đức Thọ. Bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 1m. Bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 2,2m.
+ Xe máy BKS: 18Z7 – XX đổ nghiêng trái đầu xe hướng mép đường chuẩn, đuôi xe hướng dải phân cách cứng. Tâm bánh trước cách mép đường chuẩn 1,2m và cách tâm bánh trước bên phải xe ô tô tải 01m. Tâm bánh sau xe máy cách mép đường chuẩn 2,2m.
Khám nghiệm hai phương tiện cho thấy xe ô tô tải BKS: 30L – XX do Phạm Văn X1 điều khiển đã để phần chắn đà đầu xe xô vào bên phải người ông Đặng Hữu Na khi đang điều khiển xe máy BKS: 18Z7 – XX làm nạn nhân tử vong sau đó.
Tiến hành các hoạt động điều tra, cơ quan điều tra thu giữ 01 đoạn video trích xuất từ camera hành trình của xe container BKS: 15C - 050.XX do anh Vũ Anh D, sinh năm: 198X; trú tại: Thôn 1, xã T, huyện A, tỉnh Sơn La là lái xe cung cấp ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông trên; hình ảnh chụp lại trên điện thoại di động lịch sử hành trình giao thông qua ứng dụng định vị GPS để quản lý xe ô tô tải BKS: 30L – XX do anh Nguyễn Văn T là chủ xe cung cấp ghi nhận tốc độ di chuyển của xe khi xảy ra va chạm giao thông tại (Km104+500) quốc lộ 21B địa phận xã Nam Phong, thành phố Nam Định ngày 11/6/2021 thời gian từ 05 giờ 35’ 01” là 61 km; 05 giờ 35’ 31” là 56 km; 05 giờ 36’ 01” là 67 km; 05 giờ 36’ 31” là 0km.
Quá trình điều tra, ngày 17-6-2021 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định có bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 786/GĐKTHS, kết luận: Nguyên nhân dẫn đến tử vong của ông Đặng Hữu N là: Đa chấn thương; vỡ nứt xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm theo chiều ngang, kích thước (5 x 0,1)cm; gãy cung trước xương sườn 4,5,6 bên trái; gãy cung trước và cung bên xương sườn 2,3,4,5,6 bên phải; gãy cung sau xương sườn 8,9,10 bên phải; gãy phức tạp 1/3 giữa cả hai xương cẳng chân phải. Cơ chế hình thành vết thương: Do va đập, trà sát.
Tại cơ quan điều tra Phạm Văn X1 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Trong giai đoạn điều tra, Phạm Văn X1 đã bồi thường cho gia đình ông Đặng Hữu N số tiền 190.000.000 đồng. Đại diện gia đình ông N là anh Đặng Phương T, sinh năm 1984; trú tại: Số X, phường Z, thành phố A (con trai của nạn nhân) đã nhận đủ số tiền trên đồng thời có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn X1.
Đối với xe ô tô tải BKS: 30L – XX Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định xác minh và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ X, thị trấn A, huyện Z, tỉnh Nam Định nhận lại và không có ý kiến thắc mắc gì.
Đối với chiếc xe máy BKS: 18Z7 – XX, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định xác minh chủ sở hữu hợp pháp là của ông Đặng Hữu N nên đã trả lại cho anh Đặng Phương T (con trai của nạn nhân) là đại diện gia đình ông N nhận lại và không có ý kiến thắc mắc gì.
Bản cáo trạng số 224/CT-VKSTPNĐ ngày 09-8-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Phạm Văn X1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn X1 thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, những người đại diên hợp pháp của người bị hại có ý kiến như sau:
Bà Trần Thị Tuyết trình bày: Sau khi xảy ra vụ tai nạn bị cáo Phạm Văn X1 thường xuyên đến thăm hỏi và chia buồn cùng gia đình và đã bồi thường số tiền 190.000.000 đồng. Trong giai đoạn điều tra, bà đã ủy quyền cho con trai là Đặng Phương Tùng để giải quyết vụ việc. Tại phiên tòa hôm nay bà không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn X1.
Anh Đặng Phương Tùng trình bày: Anh không có ý kiến gì đối với lời khai của bị cáo Phạm Văn X1 tại phiên tòa. Trong giai đoạn điều tra anh được gia đình ủy quyền để giải quyết vụ việc, anh đã nhận bồi thường của bị cáo Phạm Văn X1 số tiền 190.000.000 đồng và đã làm đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tại phiên tòa anh không có yêu cầu gì về vấn đề bồi thường dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn X1. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trả lại cho anh chiếc xe máy BKS: 18Z7 – 9464 nên anh không có yêu cầu đề nghị gì.
Chị Đặng Phương Thanh trình bày: Sau khi xảy ra tai nạn chị đã ủy quyền cho anh trai là Đặng Phương Tùng để giải quyết vụ việc. Tại phiên tòa chị không có yêu cầu gì về vấn đề bồi thường dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn X1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Phạm Văn X1 tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn X1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn X1 từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Phạm Văn X1 nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn X1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Khoảng 05 giờ 35 phút ngày 11-6-2021, Phạm Văn X1 (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải BKS: 30L – 2313 chở 10 máy trộn vữa và 12 cốp pha xây dựng từ xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường đến huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Khi di chuyển đến điểm giao cắt giữa quốc lộ 21B với đường trục xã Nam Phong, thành phố Nam Định (Km104+500) hướng cầu Tân Phong; do chủ quan không chú ý quan sát, khi vào khu vực đường giao nhau không giảm tốc độ đến mức an toàn nên đã để phần chắn đà phía trước xe ô tô BKS: 30L – 2313 xô vào mặt ngoài càng xe bên phải, cánh yếm chắn gió bên phải xe máy BKS: 18Z7 – 9464, vai phải và phần đầu bên phải ông Đặng Hữu Na đang điều khiển xe máy di chuyển trong khu vực đường giao nhau làm ông Na và xe máy đổ ra đường. Hậu quả ông Na tử vong. Hành vi trên của Phạm Văn X1 vi phạm khoản 23 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải đã gây tai nạn giao thông với hậu quả nghiêm trọng làm chết người.
Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản kết luận giám định pháp y tử thi và lời khai của người làm chứng, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Văn X1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
3.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường dân sự cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
4.1. Về hình phạt chính:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng của người khác. Việc đưa bị cáo ra xét xử nhằm giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phạm Văn X1 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo, vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
4.2. Về hình phạt bổ sung:
Xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về phần dân sự:
Vấn đề dân sự giữa bị cáo với gia đình bị hại đã được giải quyết xong vì vậy không đặt ra để xem xét.
Về vật chứng: Đối với xe ô tô tải BKS: 30L – 2313 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định xác minh và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn Thiện, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ 16, thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đối với chiếc xe máy BKS: 18Z7 – 9464, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định xác minh chủ sở hữu hợp pháp là của ông Đặng Hữu Na nên đã trả lại cho anh Đặng Phương Tùng (con trai của nạn nhân) là đại diện gia đình ông Na nhận lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí:
Bị cáo Phạm Văn X1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn X1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn X1 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn X1 cho Ủy ban nhân dân xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Phạm Văn X1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phạm Văn X1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phạm Văn X1 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Phạm Văn X1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Phạm Văn X1 và những người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị Tuyết, anh Đặng Phương Tùng, chị Đặng Phương Thanh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Nam Định; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Nam Định; - Công an TP. Nam Định; - UBND xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Dũng |