vanban.org

Bản án 235/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 24/11/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Vũ Thanh X; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 84/2019/DS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố H về phần án phí và xử lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, như sau:

Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu h i Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại t 13 cụm 2 phường N, quận T, thành phố H số 10103090204 mang tên ông Vũ Thanh X và bà Ngô Thị T7 do UBND thành phố H cấp ngày 11/7/2001; đăng ký sang tên ông Vũ Thanh X ngày 21/05/2015. Sau k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp ngõ đi chung và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Vũ Thanh X; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 84/2019/DS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố H về phần án phí và xử lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự QUYẾT ĐỊNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2020/DS-PT
Ngày: 24/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà;

Các Thẩm phán:

Ông Thái Duy Nhiệm;

Bà Lê Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 24 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 176/TL-DSPT ngày 16 tháng 06 năm 2020 về việc “Tranh chấp ngõ đi chung và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản” do có kháng cáo của bị đơn là ông Vũ Thanh X đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2019/DS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố H.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 8341/2020/QĐXX-PT ngày 09 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Chu Thị , sinh năm 1948; trú tại: ố nhà 12, ngõ 690 đường L1, t 13 cụm 2, phường N, quận T, thành phố H; có mặt tại phiên toà.

đơn có yêu c u ph n t : Ông Vũ Thanh X, sinh năm 1941; trú tại: ố nhà 14, ngõ 690 đường L1, t 13 cụm 2, phường N, quận T, thành phố H;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Thanh 2, sinh năm 1973 theo văn bản ủy quyền ngày 20/10/2018 lập tại Văn phòng Công chứng T1); có mặt tại phiên toà.

Ng i o v quy n và l i ích h p pháp của ng V Thanh X: Ông Bùi Văn T2 - Văn phòng Luật sư T3, Đoàn luật sư thành phố H.

Ng i (cơ quan) có quy n l i, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân thành phố H;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh N1 - hó iám đốc ở Tài nguyên và Môi trường thành phố H; vắng mặt tại phiên toà.

2. Ủy ban nhân dân phường N, quận T, thành phố H;

Người đại diện theo pháp luật: ng hạm Thế V - Chủ tịch BN phường N; vắng mặt tại phiên toà.

3. Ông Ngô Việt , sinh năm 1940; trú tại: ố nhà 12, ngõ 690 đường L1, t 13 cụm 2 phường N, quận T, thành phố H;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Chu Thị ;

4. Anh Vũ Thanh 2, sinh năm 1973;

5. Chị Trần Thị an , sinh năm 1975;

6. Cháu Vũ hương H1, sinh năm 2007;

7. Cháu Vũ hương N2, sinh năm 2014;

Cùng trú tại: ố nhà 14, ngõ 690, đường L1, t 13 cụm 2, phường N, quận T, thành phố H;

Người đại diện theo pháp luật của cháu H1, cháu N2: Anh Vũ Thanh 2 và chị Trần Thị an ;

Người đại diện theo ủy quyền của chị hương: nh Vũ Thanh 2 (Theo văn bản ủy quyền ngày 20/10/2018 lập tại Văn phòng Công chứng T1).

8. Chị Vũ nh N3, sinh năm 1981;

9. nh Bùi H ng H2, sinh năm 1977.

10. Cháu Bùi Chí C, sinh năm 2007.

11. Cháu Bùi Ngọc Bảo 3, sinh năm 2012.

Cùng trú tại: ố nhà 14, ngõ 690, đường L1, t 13 cụm 2, phường N, quận T, thành phố H;

Người đại diện theo pháp luật của cháu C, cháu 3: Chị Vũ Ánh N3, anh Bùi H ng H2;

Người đại diện theo ủy quyền của chị N3, anh H2: Anh Vũ Thanh 2 theo văn bản ủy quyền ngày 20/10/2018 lập tại Văn phòng Công chứng T1).

12. nh Ngô Việt T4, sinh năm 1975;

13. Chị Đặng Thị , sinh năm 1982;

14. Cháu Ngô ong 1, sinh năm 2003;

15. Cháu Ngô Thị hánh 3, sinh năm 2007;

Cùng trú tại: ố nhà 12, ngõ 690, đường L1, t 13 cụm 2, phường N, quận T, thành phố H;

Người đại diện theo pháp luật của cháu 1, cháu 3: nh Ngô Việt T4 và chị Đặng Thị ; có mặt tại phiên toà.

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện b sung và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngõ đi hiện nay gia đình bà và ông Vũ Thanh X đang tranh chấp là ngõ 12/690 đường L1 đi vào số nhà 12 và số nhà 14, ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H có diện tích khoảng trên dưới 20m2 là ngõ đi chung của gia đình bà và gia đình ông X từ những năm cuối thế kỷ 19. Từ thời bố m bà và bố m ông X tính đến nay đ đư c hơn 100 năm (BL 36).

Từ khi bà sinh ra năm 1948 , thửa đất mang tên bố bà có ba mặt giáp lối đi: Mặt trước thửa đất giáp với đường làng nay là ngõ 690 đường L1); phía bên trái từ nhà nhìn ra giáp với ngõ có hàng rào dâm bụt; phía bên phải từ nhà nhìn ra của thửa đất giáp với ngõ hiện nay đang có tranh chấp với gia đình ông X.

Bản đ địa chính đo vẽ năm 1960 thể hiện: Thửa đất số 136, tờ bản đ số 3 có diện tích 480m2 bao g m cả ngõ đi tranh chấp này; chủ sử dụng mang tên cụ Chu Văn 4 (bố đẻ bà). Từ thời đó, gia đình bà đ mở c ng chính đi lối ngõ đang có tranh chấp với gia đình ông X để vào nhà chứ không đi hai ngõ kia. Hai mặt còn lại cụ L4 tr ng hàng rào bằng cây duối kéo đến hết chiều dài.

Bản đ địa chính đo vẽ năm 1986 thể hiện: Thửa đất số 198, tờ bản đ số 2 có diện tích 465m2 không bao g m ngõ đi tranh chấp này; chủ sử dụng mang tên cụ Phạm Thị P1 (m đẻ bà đứng tên trên s mục kê. Diện tích ngõ đi giữa nhà bà và nhà ông X đư c tách thành một thửa riêng và không gộp vào đất của nhà bà hay đất nhà ông X.

Bản đ địa chính đo vẽ năm 1995, thửa đất đứng tên m bà đư c chia tách thành bốn thửa nhỏ chia cho bà và các anh chị em khác. Bà đư c cụ P1 chia cho hai thửa đất liền sát với ngõ đi chung với nhà ông X là thửa đất số 70 (có diện tích 120m2) và thửa đất số 107 (có diện tích 107m2).

au khi đư c m bà chia đất, bà đ chuyển như ng thửa đất số 107 và giữ lại thửa đất số 70 để sinh sống. Thửa đất này tiếp giáp với hai mặt ngõ (ngõ 690 L1 hiện nay và ngõ đi chung với nhà ông X). Từ trước đến nay, bà chưa bao giờ mở c ng đi ra ngõ 690 L1 mà vẫn đi ngõ đang tranh chấp với ông X để vào nhà (BL 108).

Năm 2000, gia đình ông X xây c ng trên phần đất cuối ngõ để đi ra ngõ chung của hai gia đình. Như vậy, gia đình ông X cũng nhận thức đư c diện tích đất của gia đình ông không bao g m cả ngõ đi chung của gia đình bà và gia đình ông X (BL 35).

Năm 2016, khi gia đình ông X mua gạch định lát ngõ nhưng gia đình bà không đ ng ý. Bà làm đơn yêu cầu BN phường N giải quyết thì mới biết năm 2001, gia đình ông X đ đư c UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở bao g m cả diện tích đất là ngõ đi chung với gia đình bà (BL 108).

Tại bu i giải quyết tranh chấp đất đai ngày 18/01/2016, tất cả các thành viên tham gia hòa giải kể cả ông X đều thừa nhận ngõ đi chung giữa hai nhà đ có từ rất lâu và hiện hai gia đình vẫn đang sử dụng làm ngõ đi chung (BL 11).

Bà đến BN phường N xin trích lục bản đ địa chính qua các thời kỳ thì mới biết: Bản đ địa chính năm 1995, tờ bản đ số 4 phường N thể hiện ngõ đi này nằm trong thửa đất nhà ông X. Bà không biết UBND xã N thời kỳ đó căn cứ vào quy định pháp luật nào mà đ đưa ngõ đi chung giữa hai nhà biến thành đất riêng của gia đình ông X. Việc này là trái pháp luật.

Bà đề nghị Toà án giải quyết:

1. Công nhận ngõ đi có diện tích khoảng 20m2 đi vào số nhà 12 và 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H là ngõ đi chung của gia đình bà và gia đình ông X cùng cộng đ ng dân cư.

2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10103090204 do UBND thành phố H cấp ngày 11/7/2001 cho gia đình ông Vũ Thanh X.

3. Buộc UBND phường N điều chỉnh lại bản đ địa chính năm 1995, tờ bản đ số 4, thể hiện đúng thực trạng ngõ đi vào số nhà 12 và 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H là ngõ đi chung.

Trong quá trình Toà án gi i quyết vụ án, đơn có yêu c u ph n t - ông V Thanh X trình bày:

Ngu n gốc ngõ đi hiện nay đang có tranh chấp giữa gia đình bà L và gia đình ông nay thuộc t 13, cụm 2, phường N nằm trong thửa đất khoảng 1.000m2 là đất công điền nhà thờ họ Chu có từ thời kỳ háp thuộc cho đến năm 1955. Từ năm 1955 đến nay do Nhà nước trực tiếp quản lý.

Từ thời háp thuộc, các gia đình đư c nhà thờ họ Chu cho ở nhờ trên đất đất g m:

ia đình cụ Chu Văn 4 bố bà L đến ở nhờ đất nhà thờ họ Chu cách đây hàng trăm năm. Thửa đất có ba mặt tiền tiếp giáp ngõ: Đường làng có chiều dài khoảng 30m; phía bên trái thửa từ nhà nhìn ra giáp mặt ngõ cụt dài khoảng 16m; phía bên phải thửa đất từ nhà nhìn ra giáp thửa đất của gia đình cụ M có chiều dài khoảng 15m.

ia đình cụ M đến ở nhờ đất nhà thờ cùng thời gian với gia đình cụ 4, vị trí ở giáp phía sau đất nhà cụ 4. Thửa đất nhà cụ M thuộc loại “ ất động s n ao ọc” nên nhà thờ họ Chu đ bố trí cho một lối đi có chiều rộng 02m, dài 15m như hiện trạng ngày nay để đi ra đường làng và đây là lối đi duy nhất của gia đình cụ M, không có lối đi nào khác. Ngõ đi này cũng là ngõ đi chung của nhà cụ M và nhà cụ 4. Nhà cụ 4 đi cả đường làng để tăng gia sản xuất (BL 385).

ia đình cụ M sinh sống tại thửa đất này đến năm 1945 thì chuyển đi nơi khác, trả lại nhà đất cho nhà thờ. au đó, gia đình cụ Vũ Văn T5 là bố đẻ của ông đư c nhà thờ bố trí cho ở nhờ thay thế gia đình cụ M và đi chung ngõ này với gia đình cụ 4 (BL 106, 107, 108).

Năm 1955, thực hiện chính sách quản lý ruộng đất, Nhà nước đ giao cho cụ Vũ Văn T5 và cụ Chu Văn 4 quản lý, sử dụng thửa đất trước đây đ sinh sống nhờ nhà thờ họ Chu.

Bản đ đo vẽ năm 1960, do đo vẽ kiểu thủ công và do hai bên tr ng cây duối và cây dâm bụt trùm ra ngõ đi chung này nên ngõ chỉ còn lại 40-50cm chiều ngang. Do vậy, trên bản đ thể hiện không rõ ngõ đi. Thửa đất nhà ông đứng tên cụ T5 có diện tích 300m2. Ngõ đi chung của hai nhà lại nhập vào đất của thửa nhà cụ L4.

Bản đ đo vẽ năm 1986, thể hiện đúng ngõ đi như hiện trạng. Ngõ đi chung có số thửa là 410 , diện tích 20m2, không giao cho gia đình nào. Thửa đất của cụ T5 là thửa đất số 197, tờ bản đ số 2, có diện tích 174m2 đất th cư. ở dĩ có sự biến động về diện tích đất trong thời kỳ này là do bố ông cho cháu là v ch ng anh hạm Văn và chị Chu Thị N4 ở nhờ một phần thửa đất có diện tích 155m2. Năm 1994, v ch ng anh G, chị N4 đ trả lại cho bố ông diện tích đất này và bố ông giao cho ông đứng tên nhà đất. iện tích đất nhà bà L hụt 15m2 so với diện tích thửa đất của bản đ lập năm 1960 là do diện tích ngõ này đư c tách riêng thành một thửa.

Bản đ đo vẽ năm 1995, Nhà nước đo vẽ lại bản đ và gộp ngõ đi vào thửa đất số 69, tờ bản đ số 4, mang tên ông nên diện tích lên đến 390m2.

Ngày 11/7/2001, gia đình ông đư c UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10103090204 với t ng diện tích là 390m2 Bao g m cả diện tích ngõ đi đang tranh chấp .

Từ năm 1945 cho đến nay, gia đình ông vẫn sử dụng lối đi này và đây là lối đi duy nhất đi vào nhà ông. ia đình bà L vẫn đi vào ngõ đang tranh chấp mà Nhà nước đ cấp riêng cho gia đình ông.

Năm 2002, ông đ thông báo với bà L là ngõ đi thuộc quyền sử dụng của riêng nhà ông nhưng bà L không đ ng ý. Vì tình nghĩa hàng xóm láng giềng nên gia đình ông vẫn để gia đình bà L đi vào ngõ này (BL 106, 107).

Năm 2016, ông có đơn đề nghị UBND phường N giải quyết tranh chấp nhưng không hoà giải đư c.

Nay với các yêu cầu khởi kiện của bà L thì ông không đ ng ý. Ông có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án giải quyết:

1. Buộc gia đình bà Chu Thị L phải mở c ng ngõ đi trên đất của mình có mặt tiền 7m tiếp giáp với ngõ 690 đường L1.

2. Buộc gia đình bà Chu Thị L phải dỡ bỏ mái tôn, mái vẩy bằng các loại vật liệu lấn sang phần đất nhà ông đ đư c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Buộc gia đình bà Chu Thị L phải bịt lại c ng đi sang đất nhà ông và di chuyển hệ thống cấp thoát nước, các công trình nhô ra đất nhà ông (BL 125,130).

Ng i có quy n l i nghĩa vụ liên quan - y an nh n d n thành ph H trình bày: đề nghị HĐXX xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật và đề nghị đư c vắng mặt trong quá trình tố tụng và xét xử (BL 297).

y an nh n d n ph ng N trình bày: (BL 306)

V quá trình sử dụng đất của gia đình bà Chu Th L:

Theo bản đ , s mục kê năm 1960 thì thửa đất số 136, tờ bản đ số 3, diện tích 480m2 đứng tên cụ Chu Văn 4 (có một mặt tiếp giáp với đường làng).

Theo bản đ , s mục kê năm 1986 thì thửa đất số 198, tờ bản đ số 2, diện tích 465m2 đứng tên cụ Phạm Thị P1 (v cụ L4).

Theo bản đ , s mục kê năm 1995 thì thửa đất số 70, tờ bản đ số 4, diện tích 120m2 đứng tên bà Chu Thị L (con cụ L4).

V quá trình sử dụng đất của gia đình ông V Thanh X:

Theo bản đ , s mục kê năm 1960 thì thửa số 131, tờ bản đ số 3, diện tích 180m2 đất th cư, 120 m2 vườn đứng tên cụ Vũ Văn T5 (không thể hiện ngõ đi

Theo bản đ , s mục kê năm 1986 thì thửa đất số 131 đư c tách thành hai thửa là thửa 231 với diện tích 155m2 đứng tên ông Phạm Văn ; thửa 179 với diện tích 174 m2 đất th cư đứng tên cụ T5 (có ngõ đi ra đường làng).

Theo bản đ , s mục kê năm 1995 thì thửa đất trên là thửa số 69, tờ bản đ số 4, diện tích 390m2 đất th cư đứng tên ông Vũ Thanh X (con cụ T5).

V quá trình sử dụng đất ngõ đi đang tranh chấp:

Theo bản đ , s mục kê năm 1986 thì ngõ đi hiện tranh chấp có số thửa 410 , tờ bản đ số 2, diện tích 20m2, không thể hiện chủ sử dụng. UBND phường N không rõ lý do tại sao bản đ địa chính, s mục kê lập năm 1986 lại tách ngõ đi chung thành thửa đất riêng mang số 410A, diện tích 20m2.

Theo bản đ , s mục kê năm 1995 thì ngõ đi này nhập vào đất đứng tên ông X. Hiện chưa có quyết định thu h i đất của cơ quan có thẩm quyền đối với thửa đất số 410A, diện tích 20m2, tờ bản đ số 2, bản đ địa chính, s mục kê lập năm 1986 của x N và cũng không có quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền đối với thửa đất này cho gia đình cụ T5 (hoặc gia đình ông X).

UBND phường N không rõ lý do tại sao bản đ địa chính, s mục kê lập năm 1995, tờ bản đ số 4 đ h p nhất ngõ đi chung thửa đất số 410A, diện tích 20m2) vào thửa đất số 69 đứng tên ông X.

V cung cấp tài li u:

o s mục kê thửa đất k m bản đ địa chính lập năm 1986, thửa đất số 410 , tờ bản đ số 2 không thể hiện chủ sử dụng; chưa có quyết định thu h i đất và không có quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền đối với thửa đất số 410A, diện tích 20m2, bản đ địa chính lập năm 1986, tờ bản đ số 2 cho gia đình cụ T5 nay là ông X ; BN phường N không có thông tin đóng thuế (thời gian bắt đầu đóng thuế; diện tích đóng thuế của mỗi nhà; diện tích đóng thuế có bao g m ngõ đi đang tranh chấp không; tài liệu chứng minh như biên lai đóng thuế của từng nhà qua mỗi năm nên UBND phường N không cung cấp các tài liệu trên theo đề nghị của Tòa án đư c.

Trong quá trình Toà án gi i quyết vụ án, ng i có quy n l i nghĩa vụ liên quan và là ng i đ i di n theo ủy quy n của ch Tr n Th Lan P, ch V Ánh N3, anh i H ng H2 - anh V Thanh L2 trình bày: Thống nhất với mọi ý kiến, yêu cầu và quan điểm giải quyết vụ án của ông Vũ Thanh X.

Trong quá trình Toà án gi i quyết vụ án, ng i có quy n l i nghĩa vụ liên quan

- anh Ng Viết T4 trình bày:

nh là con trai của bà L, anh sinh ra và lớn lên tại số nhà 12, ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H. Từ khi anh sinh ra thì nhà anh và nhà cụ T5 đ đi chung ngõ này. o nhà quay mặt về hướng nhà cụ T5 nên khi đi vào nhà thì phải đi sát xuống bờ rào cụ T5 r i quay lại đi lên để vào nhà đư c. Từ trước đến khi có tranh chấp ngõ đi, hai gia đình không có mâu thuẫn gì.

nh nghe kể là ngõ đi chung giữa hai nhà đ đư c ông ngoại anh là cụ 4 hiến một phần đất của gia đình để ngõ đi rộng thêm.

Trước đây, tại số nhà 14 ngõ 690 đường L1 có cụ T5 sống cùng con gái là bà O. au khi cụ bà T5 mất, bà O chuyển đi nơi khác sinh sống thì gia đình ông X chuyển về sinh sống tại đó.

Năm 2017, gia đình anh có nhu cầu xây dựng nhà thì lúc đó anh 2 là con ông X nói với gia đình anh đây là ngõ đi riêng của nhà ông X và đ đư c Nhà nước cấp từ năm 1995. hần ngõ này đ đư c cấp iấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà ông X. Nhiều lần, gia đình ông X yêu cầu gia đình anh mở cửa đi hướng khác.

nh không đ ng ý với yêu cầu của ông X vì yêu cầu này của nhà ông X là vô lý. nh thống nhất với mọi ý kiến, quan điểm của m anh về vụ kiện B 422 .

Ng i có quy n l i nghĩa vụ liên quan - ch Đ ng Th K trình bày: thống nhất như ý kiến, quan điểm của anh T4 và bà L đ trình bày B 423 .

Quá trình thu thập chứng cứ:

iên n ghi ý kiến ng i làm chứng ngày 26/07/2019 đ i với:

1. Ông Chu Quang H3, sinh năm 1942; trú tại: T 15 khu dân cư số 3, phường N, quận T, thành phố H;

2. Bà Chu Thị C1, sinh năm 1946; trú tại: T 14 khu dân cư số 3, phường N, quận T, thành phố H.

3. Bà Chu Thị Huy , sinh năm 1937; trú tại: T 13 khu dân cư số 4, phường N, quận T, thành phố H.

Các ông, bà trên cung cấp ý kiến: Các ông, bà là những người sinh ra, lớn lên và sinh sống từ trước đến nay tại t 13, t 14 khu dân cư số 3, 4 phường N trước đây là thôn Tây, x N, huyện T6, thành phố H).

Trước đây, ngõ 12/690 đường L1 là ngõ đi chung của nhà ông Vũ Thanh X và bà Chu Thị rất nhỏ do hai bên là bờ rào đư c cây duối cây dứa dại chùm ra. Các ông bà cũng không biết lý do tại sao gia đình ông X lại đư c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao g m cả phần ngõ đi chung của gia đình bà L và gia đình ông X.

Đề nghị Tòa án xem xét, căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết cho gia đình bà L, gia đình ông X sử dụng chung và giữ gìn tình nghĩa hàng xóm láng giềng.

T i biên b n xem xét thẩm đ nh và đ nh giá ngày 11/10/2018:

Trên thửa đất số 70 (nhà bà L) có nhà hai tầng, xây năm 1994, phần giáp mặt ngõ 690 đường L1 toàn bộ là tường cao, không có c ng đi ra lối này. Nhà chỉ có một c ng đi duy nhất ra ngõ tranh chấp.

Trên thửa đất số 69 (nhà ông X) có nhà ba tầng, khối nhà tạm, và công trình phụ. Có một c ng sắt đi ra ngõ tranh chấp và là lối đi duy nhất.

Ngõ tranh chấp là ngõ 12/690 đường L1 có diện tích 28,1 m2 đ bê tông, có hai c ng tr ra ngõ là c ng nhà bà L và c ng nhà ông X. Có một số công trình nằm ở khoảng không của ngõ đi g m: Mái vẩy, mái tôn, ống nước (Ốp vào nhà bà L), cửa sắt. Trị giá quyền sử dụng đất ngõ đi là: 28,1m2 x 58.000.000 đ ng = 1.629.800.000 đ ng; trị giá đường bê tông: 4.088.550 đ ng.

Trị giá những phần nằm ở khoảng không của ngõ đi: Trị giá mái vẩy: 946.000 đ ng; trị giá mái tôn phần chìa ra ngõ đi: 1.264.433 đ ng; trị giá ống nước: 80.750 đ ng; trị giá cửa sắt 1.539.000 đ ng. T ng trị giá: 3.830.183 đ ng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 84/2019/DS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố H đ quyết định:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị L.

[1.1] Xác nhận ngõ đi có diện tích đo thực tế ngày 11/10/2018 là 28,1m2 đi vào số nhà 12 và 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H đư c giới hạn bởi các điểm (1, 2, 3, 4, 5, 20, 19, 18, 17, 16, 15, 1 thể hiện trong sơ đ kèm theo bản án là ngõ đi chung của gia đình bà Chu Thị L, gia đình ông Vũ Thanh X cùng cộng đ ng dân cư.

Diện tích đất nhà ông Vũ Thanh X không bao g m ngõ đi chung này.

[1.2] Thu h i Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại t 13 cụm 2 phường N, quận T, thành phố H mang số 10103090204 mang tên ông Vũ Thanh X và bà Ngô Thị T7 do UBND thành phố H cấp ngày 11/7/2001; đăng ký sang tên ông Vũ Thanh X ngày 21/5/2015.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Vũ Thanh X có quyền đến Cơ quan có thẩm quyền xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại số nhà 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H với diện tích nhà đất đ đư c bản án có hiệu lực xác định.

[1.3] Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Chu Thị L, ông Vũ Thanh X có quyền đề nghị; các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm điều chỉnh lại bản đ địa chính năm 1995, tờ bản đ số 4 x N nay là phường N, quận T, thành phố H) thể hiện đúng thực trạng ngõ đi vào số nhà 12 và 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H là ngõ đi chung.

[2] Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu phản tố của ông Vũ Thanh X bao g m: Buộc gia đình bà Chu Thị L phải mở c ng ngõ đi trên đất của mình có mặt tiền 7m tiếp giáp với ngõ 690 đường L1; buộc gia đình bà Chu Thị L phải dỡ bỏ mái tôn, mái vẩy bằng các loại vật liệu lấn sang phần đất nhà bị đơn; buộc gia đình bà Chu Thị L phải xây lấp và bịt lại c ng đi sang đất nhà bị đơn và di chuyển hệ thống cấp thoát nước đi qua đất nhà bị đơn, tất cả trở về thửa đất nhà bà L đư c quyền sử dụng theo pháp luật.

Bà Chu Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại bà Chu Thị L số tiền 300.000 đ ng tạm ứng án phí đ nộp theo Biên lai thu tiền số 0000618 ngày 21/6/2018 của Cục thi hành án dân sự thành phố H.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với ông Vũ Thanh X.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/11/2019 ông Vũ Thanh X kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không b sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác và cũng không thỏa thuận đư c với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp cho bị đơn có ý kiến thể hiện: Bản án sơ thẩm đ xác định ngõ đi chung của gia đình bà Chu Thị L, ông Vũ Thanh X cùng cộng đ ng dân cư là không có căn cứ và vư t quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, làm thiệt hại 8,2m2 đất của gia đình ông X; Quyết định của bản án sơ thẩm tuyên thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông X là không đúng quy định tại pháp luật. Đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Thanh X. Sửa bản án sơ thẩm: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa trình bày ý kiến thể hiện: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong h sơ vụ án và đ đư c thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp cho đương sự và các bên đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đ ng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy iấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tranh chấp ngõ đi chung. Bị đơn có yêu cầu phản tố. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ngõ đi chung, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố H theo quy định tại khoản 2, khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điểm a khoản 1 Điều 37; Điểm a khoản 1 Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Tại phiên toà, vắng mặt đại diện theo ủy quyền của BN thành phố H; đại diện theo pháp luật của BN phường N và có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đ ng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp:

Theo tài liệu thu thập có trong h sơ vụ án, thể hiện: ia đình cụ Chu Văn L4 bố bà Chu Thị và gia đình cụ M đến ở nhờ đất nhà thờ họ Chu từ thời háp thuộc. Năm 1945, gia đình cụ M chuyển đi nơi khác và gia đình cụ Vũ Văn T5 đến ở thay thế cụ M ở giáp phía sau đất nhà cụ 4).

Bản đ địa chính, s mục kê lập năm 1960, tờ bản đ số 3, x N nay là phường N không thể hiện ngõ đi vào số nhà 12 và 14 ngõ 690 đường L1. Toàn bộ diện tích ngõ đi chung này nằm trong thửa đất số 136, diện tích 480m2 có một mặt tiếp giáp với đường làng thuộc quyền sử dụng của cụ 4. Thửa đất số 131 đứng tên cụ T5 có diện tích 180m2 đất th cư, 120m2 đất vườn, không thể hiện ngõ đi.

Bản đ địa chính, s mục kê lập năm 1986, thửa đất số 410 , tờ bản đ số 2, x N nay là phường N) có diện tích 20m2 là ngõ đi chung đi ra đường làng. Ngõ đi này nằm phía bên phải của thửa đất số 198 thửa đất của gia đình bà L . Thửa đất số 131 cũ đứng tên cụ T5 đư c tách làm hai thửa là thửa số 213 có diện tích 155m2 đất th cư đứng tên ông hạm Văn và thửa đất số 179 có diện tích 174m2 đất th cư đứng tên ông Vũ Văn T5. Cả hai thửa đất số 213 và 179 có ngõ đi ra đường làng.

Bản đ địa chính, s mục kê lập năm 1995, tờ bản đ số 4 thể hiện đ nhập ngõ đi chung thửa đất số 410A, diện tích 20m2) vào thửa đất số 69 đứng tên ông Vũ Thanh X (con cụ T5) với t ng diện tích đất là 390m2.

Năm 1999, gia đình bà L đư c UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, sơ đ trong Giấy chứng nhận thể hiện có ngõ đi tranh chấp nằm phía bên phải của thửa đất.

Năm 2001, ông Vũ Thanh X và bà Ngô Thị T7 đư c UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, sơ đ trong Giấy chứng nhận thể hiện ngõ đi có mặt tiếp xúc với ngõ 690 đường L1 có chiều rộng là 1,7m nằm trong diện tích 390m2 đất đư c cấp Giấy chứng nhận.

Năm 2016, giữa nhà bà L và nhà ông X phát sinh tranh chấp về ngõ đi này. Bà L cho rằng đây là ngõ đi chung, ông X cho rằng đây là ngõ đi riêng của nhà ông X.

Xét kháng cáo của ông Vũ Thanh X

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận ngõ đi vào số nhà 12 và 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H là ngõ đi chung của gia đình nguyên đơn và gia đình ông Vũ Thanh X cùng cộng đ ng dân cư. Hội đ ng xét xử, thấy:

Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự và những người làm chứng đều thừa nhận ngõ đi này là ngõ đi chung từ thời Pháp thuộc. Bản đ địa chính, s mục kê lập năm 1960 không thể hiện ngõ đi chung trên bản đ vì ngõ đi chung đư c gộp chung vào thửa đất số 136 của cụ Chu Văn 4. Bản đ địa chính, s mục kê lập năm 1986 đ tách riêng một thửa mang số 410A, diện tích 20m2 và thể hiện là ngõ đi chung. Khi ngõ đi đư c tách riêng một thửa 410A theo bản đ năm 1986 thì cả gia đình bà L và gia đình ông X đều không có ý kiến gì.

hi đo vẽ lại bản đ địa chính năm 1995, tờ bản đ số 4 thể hiện cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đo đạc bản đ đ h p nhất thửa đất số 410 đang là ngõ đi chung vào thửa đất số 69 của cụ Vũ Văn T5. Lý do việc h p nhất này thì UBND quận T và UBND phường N đều trả lời là không biết và không đưa ra căn cứ của việc nhập hai thửa đất này với nhau.

Tại khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về những căn cứ xác lập quyền sử dụng đất như sau: “2. Quy n sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác đ c xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất ho c công nhận quy n sử dụng đất”.

Ông X cho rằng có việc h p nhất ngõ đi thửa đất số 410 đang là ngõ đi chung vào thửa đất số 69 đứng tên ông là do “Nhà n ớc giao đất l i đi cho gia đình ng”(BL 128) nhưng không xuất trình đư c tài liệu, chứng cứ nào liên quan đến việc có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất cho gia đình ông sử dụng.

Qua cung cấp chứng cứ của UBND phường N; h sơ địa chính và h sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến gia đình ông X do các cơ quan quản lý đất đai cung cấp cho Tòa án đều thể hiện không có quyết định giao đất đối với thửa đất số 410 đang là ngõ đi chung của cơ quan có thẩm quyền cho gia đình ông X.

Như vậy, việc bản đ địa chính đo vẽ năm 1995 đ h p nhất ngõ đi chung này vào thửa đất số 69 thành lối đi riêng của gia đình ông X là không có căn cứ và không đúng quy định của pháp luật. iện tích đất ngõ đi này từ thời điểm trước đến khi gia đình ông X đư c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là lối đi chung của gia đình bà L, gia đình ông X cùng cộng đ ng dân cư. o đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà L là có căn cứ.

Về yêu cầu khởi kiện hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10103090204 do UBND thành phố H cấp ngày 11/7/2001 cho gia đình ông Vũ Thanh X. Hội đ ng xét xử nhận thấy:

Tháng 9/1998, căn cứ vào bản đ địa chính năm 1995, ông X làm thủ tục kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở với t ng diện tích 390m2 đất.

Theo đăng ký nhà cửa ngày 28/9/1998 thể hiện ngu n gốc đất từ năm 1956-1960, Nhà nước cải cách ruộng đất chia cấp cho gia đình cụ Vũ Văn T5; Từ ngày 17/2/1998, ông X đư c thừa kế đất của cụ T5.

Theo quy định tại phần IV Thông tư liên tịch số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 của T ng cục địa chính: “U ND xã, ph ng, th trấn có trách nhi m xét để xác đ nh quy n sử dụng đất h p pháp của từng chủ sử dụng đất trên từng thửa đất khi đăng ký đất an đ u”.

Tại Biên bản phân loại h sơ kê khai đăng ký nhà ở, đất ở ngày 03/7/1999, Hội đ ng kê khai đăng ký nhà ở, đất ở phường N xác nhận ngu n gốc nhà đất của ông X: “Mục 4/ Ngu n g c sử dụng đất” thể hiện “Năm 1986, ..... ông T5 có 174m2 đất ở và 20m2 ngõ đi .... Đất có iến động tăng là 20m2 so với n đ 1986 vì ph n ngõ 20m2 kh ng đo tính (Đất ngõ có từ tr ớc ngày 18/12/1980), năm 1960 kh ng đo vẽ” là không có căn cứ. Hội đ ng kê khai đăng ký nhà ở, đất ở phường N chỉ căn cứ vào bản đ địa chính đo vẽ năm 1995 và đăng ký, kê khai của ông X để đề nghị xét cấp cho gia đình ông X 390m2 đất ở bao g m cả ngõ đi chung là không đúng diện tích thực tế khi gia đình ông X không có Quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền đối với thửa đất số 410 , diện tích 20m2 theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 69/1999/QĐ-UB ngày 18/8/1999 của UBND thành phố H về kê khai đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị H: “Các tr ng h p sau đ y đ c xét cấp Giấy chứng nhận: ...1.2- Những giấy tờ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất để làm nhà ở cấp trong quá trình thực hi n các chính sách đất đai qua các th i kỳ của Nhà n ớc Vi t Nam dân chủ cộng hoà, Nhà n ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vi t Nam mà ng i đ c giao đất, thuê đất vẫn liên tục sử dụng từ đó đến nay”.

Theo bản đ , s mục kê năm 1960 thì gia đình cụ Vũ Văn T5 chỉ sử dụng 300 m2 (bao g m cả đất th cư và đất vườn). Theo bản đ , s mục kê năm 1986 thì t ng diện tích đất cụ T5 và ông Phạm Văn (sau này trả lại cho cụ T5) chỉ sử dụng 329 m2. Bản thân ông X thừa nhận đất của gia đình ông thuộc loại bất động sản bị vây bọc nhưng bản đ , s mục kê năm 1995 xác định diện tích tăng lên 390m2 trong khi không có quyết định giao đất mới là việc biến động tăng không có căn cứ pháp luật.

UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10103090204 ngày 11/7/2001 cho gia đình ông X với t ng diện tích 390m2 là cấp không đúng diện tích, đ xâm phạm đến quyền và l i ích h p pháp của gia đình bà L.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà Chu Thị L, căn cứ hoản 2 Điều 106 uật đất đai năm 2013 quyết định thu h i Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10103090204, như vậy là chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì: khi giải quyết vụ án dân sự Tòa án có quyền hủy các quyết định hành chính cá biệt, nếu có căn cứ xác định quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền l i h p pháp của các đương sự trong vụ án, không có quy định Tòa án có quyền thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bà L không kháng cáo, nhất trí với bản án sơ thẩm. o việc tuyên thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ cấp cho ông Vũ Thanh X chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 106 uật đất đai năm 2013 dẫn đến khó khăn trong việc thi hành án nên cấp phúc thẩm sẽ sửa phần quyết định này cho phù h p.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Buộc UBND phường N điều chỉnh lại bản đ địa chính năm 1995, tờ bản đ số 4 thể hiện đúng thực trạng ngõ đi vào số nhà 12 và số nhà 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H là ngõ đi chung đ đư c Hội đ ng xét xử cấp sơ thẩm xem xét và quyết định chấp nhận là có căn cứ.

Bằng các chứng cứ và phân tích nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đ xác định rõ diện tích ngõ tranh chấp là ngõ đi chung. o đó không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ. Đối với những nội dung kháng cáo khác của bị đơn đ đư c Tòa án cấp sơ thẩm phân tích, đánh giá và quyết định là có căn cứ, đúng pháp luật. o đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm của bị đơn ông Vũ Thanh X.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công nhận ngõ đi có diện tích khoảng 20m2 đi vào số nhà 12 và 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H là ngõ đi chung của gia đình nguyên đơn và gia đình ông X cùng cộng đ ng dân cư. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xác định, trước đây ngõ đi tranh chấp chỉ có diện tích khoảng 20m2, nhưng khi xây nhà bà đ nắn thẳng nhà, cắt phần đất thừa dọc nhà nhập vào diện tích ngõ, bà chấp nhận diện tích ngõ như hiện trạng là 28,1m2 với mục đích dùng vào ngõ đi chung; Bản thân ông X thừa nhận ngõ như hiện trạng là 28,1m2 và gia đình ông không thay đ i vị trí c ng, đất làm ngõ đi không biến động tăng về phía đất nhà ông X. o đó không có căn cứ chấp nhận ý kiến của Người bảo vệ quyền l i ích h p pháp của bị đơn.

Về án phí sơ thẩm: Theo bản án sơ thẩm, bà Chu Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại bà L số tiền 300.000đ ng tạm ứng án phí đ nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000618 ngày 21/6/2018 của Cục thi hành án dân sự thành phố H.

Tại h sơ vụ án thể hiện có 02 biên lai thu tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đều của Cục Thi hành án dân sự thành phố H: Biên lai số 0000618 ngày 21/6/2018 số tiền tạm ứng án phí 600.000đ ng; Biên lai số 0000631 ngày 26/6/2018 số tiền tạm ứng án phí 600.000đ ng. o đó cần sửa bản án sơ thẩm tuyên trả lại bà L toàn bộ số tiền tạm ứng án phí trên.

Về án phí phúc thẩm: Ông Vũ Thanh X kháng cáo không đư c chấp nhận, nhưng do cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Vũ Thanh X; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 84/2019/DS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố H về phần án phí và xử lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, như sau:

1. Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu h i Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại t 13 cụm 2 phường N, quận T, thành phố H số 10103090204 mang tên ông Vũ Thanh X và bà Ngô Thị T7 do UBND thành phố H cấp ngày 11/7/2001; đăng ký sang tên ông Vũ Thanh X ngày 21/05/2015.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Vũ Thanh X có quyền đến Cơ quan có thẩm quyền xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại số nhà 14 ngõ 690 đường L1, phường N, quận T, thành phố H với diện tích nhà đất đ đư c bản án có hiệu lực xác định.

2. Về án phí:

2.1. Án phí sơ thẩm: Bà Chu Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại bà Chu Thị L số tiền 1.200.000 đ ng tạm ứng án phí đ nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000618 ngày 21/6/2018 và biên lai số 0000631 ngày 26/6/2018 của Cục thi hành án dân sự thành phố H.

2.2. Về án phí phúc thẩm: Ông Vũ Thanh X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ