vanban.org

Bản án 235/2018/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hoàng Thị N và anh Triệu Văn T là vợ chồng.

Về con chung: - Giao cháu Triệu Thị N, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2001 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Triệu Thị H, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2004 và giao cháu Triệu Văn M, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2007 cho anh Triệu Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị N và Triệu Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hoàng Thị N và anh Triệu Văn T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 12/11/2018
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Ninh

2. Ông Hoàng Văn Bốn

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2018/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 10 năm 2018 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị HOÀNG THỊ N, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị đơn: Anh TRIỆU VĂN T, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(chị N có mặt; anh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, Biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày: Tôi và anh Triệu Văn T ở thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng cuối năm 2000, trên cơ sở tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới vợ chồng tôi về sinh sống cùng gia đình nhà chồng ở thôn C, xã M, huyện H. Về tình cảm vợ chồng thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Đến khoảng cuối năm 2017 do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hòa hợp được, nên tôi bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn ở cho đến nay vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống trong cuộc sống và làm ăn kinh tế, anh T thường xuyên uống rượu say không chịu lao động, nên tôi có đơn xin ly hôn với anh T gửi Tòa án giải quyết.

Về con chung: Tôi và anh T có 03 người con chung là cháu Triệu Thị N, sinh ngày 22/5/2001; cháu Triệu Thị H, sinh ngày 07/3/2004; cháu Triệu Văn M, sinh ngày 04/9/2007 hiện 03 cháu đang ở với anh T. Khi ly hôn tôi nhận được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu N và tôi nhất trí giao cháu H và cháu M cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; tôi và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

Về tài sản, đất đai chung; tài sản cho vay và tài sản vay nợ chung: Tôi và anh T không có, nên không yêu cầu giải quyết khi ly hôn.

Bị đơn anh Triệu Văn T trình bày tại Biên bản ghi lời khai và Biên bản hòa giải có lưu trong hồ sơ vụ án: Tôi và chị Hoàng Thị N chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 2000, trên cơ sở được tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới vợ chồng tôi về sinh sống cùng gia đình bố mẹ tôi. Tình cảm vợ chồng thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Đến khoảng cuối năm 2017 do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hòa hợp được, nên chị N bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn ở cho đến nay vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau.

Tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng kéo dài, nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Tôi và chị N có 03 người con chung là cháu Triệu Thị N, sinh ngày 22/5/2001; cháu Triệu Thị H, sinh ngày 07/3/2004; cháu Triệu Văn M, sinh ngày 04/9/2007 hiện 03 cháu đang ở với tôi. Khi ly hôn tôi nhận được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu H, cháu M và tôi nhất trí giao cháu N cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; tôi và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

Về tài sản, đất đai chung; tài sản cho vay và tài sản vay nợ chung: Tôi và chị N không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.

Ý kiến của con chung là cháu Triệu Thị N nếu bố mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu là được ở trực tiếp với mẹ Hoàng Thị N. Cháu Triệu Thị H và cháu Triệu Văn M nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với bố Triệu Văn T.

Về chứng cứ, quá trình giải quyết vụ án chị N cung cấp 03 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của con chung; 01 bản sao Sổ hộ khẩu; 02 bản sao Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị N, Triệu Văn T. Anh T không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

Tòa án xác minh tại địa phương nơi cư trú được biết: Chị Hoàng Thị N và anh Triệu Văn T chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn. Chị N và anh T có 03 người con chung hiện đang ở cùng anh T. Chị N và anh T có xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, thực tế vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 đến nay, nên việc chị N xin ly hôn với anh T đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, thụ lý và giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình là đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Tòa án xác định tư cách đương sự, và tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng trình tự của pháp luật quy định. Các phần tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành theo đúng trình tự, đúng pháp luật tố tụng quy định; ý thức chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện tốt nghĩa vụ về việc có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào các Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14; Điều 15, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định quy về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hoàng Thị N và anh Triệu Văn T là vợ chồng.

- Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Triệu Thị N. Giao cho anh Triệu Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Triệu Thị H và cháu Triệu Văn M.

Chị N và T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Chị N, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung và quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

- Về tài sản chung, đất đai chung; tài sản cho vay và tài sản vay nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định.

- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Triệu Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện chung sống, hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Qua xác minh tại địa phương được biết chị N và anhT chung sống như vợ chồng, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”. Chị N và anh T chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn khi mà hai bên đã có đủ điều kiện đăng ký kết hôn. Như vậy, chị N và anh T đã không thực hiện nghĩa vụ kết hôn theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân bất hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do vậy, cần xử không công nhận chị N và anh T là vợ chồng.

[2] Về con chung: Chị N và anh T có 03 người con chung là cháu Triệu Thị N, Triệu Thị H và cháu Triệu Văn M. Tại Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”. Chị N có quan điểm được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Triệu Thị N. Anh T có quan điểm được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Triệu Thị H và cháu Triệu Văn M hai bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. 03 người con chung cũng có ý kiến như chị N và anh T. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm cả 03 người con chung đều chưa đủ 18 tuổi, nên cần giao con cho các bên đương sự trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy quan điểm của các đương sự là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy, giao cháu N cho chị N và giao cháu H và giáo cháu M cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị N và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

[3] Về tài sản, đất đai chung; tài sản cho vay và tài sản vay nợ chung: Chị N và anh T cùng xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 14; Điều 15, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hoàng Thị N và anh Triệu Văn T là vợ chồng.

2. Về con chung: - Giao cháu Triệu Thị N, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2001 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Giao cháu Triệu Thị H, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2004 và giao cháu Triệu Văn M, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2007 cho anh Triệu Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Hoàng Thị N và anh Triệu Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Chị N và anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3. Về án phí: - Chị Hoàng Thị N phải chịu tiền án phí dân sự ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số No 0006252 ngày 05/10/2018, của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Chị N đã nộp đủ tiền án phí.

- Anh Triệu Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: - Chị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ