- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo NVL phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 234/2023/HS-ST Ngày 28 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Đức Hùng;
2. Ông Đàm Công Lưu;
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 28/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 249/2023/TLST-HS ngày 15/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: NVL, sinh năm 2001 (Tên gọi khác: Không);
Nơi đăng ký HKTT: Thôn CL, xã H, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Nơi ở: Khu phố Rích Gạo, phường Phù Chẩn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Nông Văn Báo, sinh năm 1980 và con bà Nông Thị Xuyên, sinh năm 1978; Vợ: Hoàng Thị Ly, sinh năm 1999; Con: Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: NNĐ, sinh năm 2000 (Tên gọi khác: Không);
Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố Tân Xuân, thị trấn BH, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Khu phố Long Vỹ, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Nguyễn Ngọc Giang, sinh năm 1971 và con bà Đồng Thị Thúy, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh BVH, sinh năm 2000 (Vắng mặt);
ĐKHKTT: phố Beo, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/6/2023, tại phòng trọ ở khu phố RG, phường PC, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh của BVH, sinh năm 2000, HKTT: Phố Bèo, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, lực lượng Công an thành phố Từ Sơn phối hợp Công an phường PC tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang NVL, sinh năm 2001, HKTT: Thôn CL, xã H, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn có hành vi tàng trữ 01 túi nilon bên trong có 04 gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng giấy bạc. Tuy nhiên, khi bị lực lượng công an kiểm tra, Lê đã cho túi nilon chứa 04 gói nhỏ trên vào miệng và nhai. Sau khi được lực lượng Công an giải thích, ngăn cản thì Lê đã tự nguyện lấy từ miệng ra túi nilon chứa chất bột màu trắng và các mảnh giấy màu bạc ra giao nộp (sau đó được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1). Lê khai nhận đây số ma túy Heroine mà Lê mang đến bán cho BVH với giá 1.000.000đ. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Từ Sơn để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ: 01 chiếc điện thoại iPhone 12promax, màu xanh, lắp sim sô 0364.399.761 của NVL và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, lắp sim số 0382.129.391 của BVH.
Ngày 03/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Từ Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của NVL tại khu nhà trọ của gia đình ông Nguyễn Đức Chúc, sinh năm 1961 thuộc khu phố Rích Gạo, phường Phù Chẩn, thành phố Từ Sơn. Kết quả khám xét: Thu giữ tại mặt sàn gác xép trong phòng trọ của Lê 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (sau đó được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu K1); 01 chiếc cân tiểu ly màu xám và 01 con dao lam đã qua sử dụng.
Khoảng 15 giờ ngày 03/6/2023, NNĐ, sinh năm 2000, HKTT: Tổ dân phố Tân Xuân, thị trấn BH, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, hiện ở khu phố Long Vỹ, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đến Công an thành phố Từ Sơn tự thú về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đồng thời, Đông giao nộp 01 gói nhỏ, bọc ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng hồng (sau đó được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu D1. Đông khai nhận đây là ma túy Heroine và ma túy “ngựa” mà Đông xin của NVL vào sáng ngày 03/6/2023 tại phòng trọ của Lê ở khu phố Rích Gạo, phường Phù Chẩn.
Ngày 03/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Từ Sơn trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chất ma túy đối với số chất bột màu trắng thu giữ của NVL và chất bột màu trắng hồng thu giữ của NNĐ.
Tại Kết luận giám định số 1164/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận.
“- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1038gam; là ma túy; loại ma túy Heroine (Heroin).
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K1 gửi giám định có khối lượng là 0,4630gam; là ma túy; loại ma túy Heroine (Heroin).
- Chất bột màu trắng hồng bên trong phong bì thư ký hiệu D1 gửi giám định có khối lượng là 0,1326gam; là ma túy; loại ma túy Heroine (Heroin) và Methamphetamine.
Methamphetamine và Heroine (Heroin) là các chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Quá trình điều tra NVL và NNĐ khai nhận như sau: NVL hiện đang thuê trọ tại khu phố Rích Gạo, phường Phù Chẩn và không có nghề nghiệp ổn định. Do không có tiền tiêu sài nên Lê nảy sinh ý định mua ma túy Heroine rồi chia nhỏ để bán kiếm lời. Khoảng 05 giờ ngày 03/6/2023, Lê đi một mình đến khu vực khu phố Chùa Dận, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tìm mua ma túy Heroine. Tại đây, Lê gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết. Người này đồng ý. Lê đưa cho người này số tiền 700.000đ. Người này cầm tiền và đưa lại cho Lê một túi nilon nhỏ chứa chất bột màu trắng (là ma túy Heroine). Ngoài ra, người này còn cho Lê thêm một phần viên ma túy “ngựa” màu hồng và cũng được cho vào túi nilon chứa ma túy Heroine trên. Lê cầm túi ma túy đi về phòng trọ rồi lên gác xép rồi dùng chiếc dao lam và cân tiểu ly chia nhỏ số ma túy Heroine vừa mua được thành sáu phần. Lê gói 04 phần vào bốn gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng giấy bạc, một phần viên ma túy “ngựa” thì Lê nghiền nhỏ và gói cùng một phần ma túy Heroine trong giấy màu trắng, phần ma túy Heroine còn lại Lê vẫn để trong chiếc túi nilon màu trắng. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, NNĐ đi một mình đến phòng trọ của Lê chơi (Đông và Lê là bạn xã hội). Đông ngồi chơi đến khoảng 08 giờ cùng ngày thì đi về. Trước khi về thì Đông có nhìn thấy gói giấy màu trắng để trên sàn gác xép. Do tò mò nên Đông hỏi Lê là gì thì Lê trả lời là ma túy. Đông xin Lê gói ma túy trên về để sử dụng. Lê đồng ý. Sau đó, Đông cầm gói ma túy trên đút vào túi quần phía trước bên trái rồi đi về nhà ở khu phố Long Vỹ, phường Đình Bảng. Đông chưa sử dụng số ma túy mà Lê cho. Đến chiều cùng ngày, sau khi biết NVL bị bắt, NNĐ đến Công an thành phố Từ Sơn tự thú và giao nộp gói ma túy trên.
Đến khoảng 11 giờ ngày 03/6/2023, khi NVL đang ở phòng trọ thì BVH sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, lắp sim số 0382.129.391 gọi điện đến sim số 0364.399.761 lắp trong chiếc điện thoại iPhone 12promax, màu xanh của NVL và hỏi mua 1.000.000đ tiền ma túy Heroine (Huấn và Lê là bạn xã hội). Huấn hẹn Lê mang ma túy đến phòng trọ của Huấn để giao dịch. Lê đồng ý và cầm theo 04 gói ma túy Heroine đều được bọc ngoài bằng giấy màu bạc đi bộ một mình đến phòng trọ của Huấn. Tuy nhiên, trong lúc này Huấn đang ở cùng anh Nguyễn Đương Tuyển, sinh năm 1991 trú tại thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Anh Tuyển biết Huấn hỏi mua ma túy nên đã khuyên can. Sau khi nghe lời khuyên của anh Tuyển thì Huấn từ bỏ ý định mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày thì Lê đi đến phòng trọ của Huấn. Nhưng do Huấn không muốn mua ma túy của Lê nữa nên cả hai bên chưa giao dịch mua bán. Đúng lúc này, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy NVL tàng trữ trái phép để bán là 0,5668gam ma túy Heroine. NNĐ và NVL tàng trữ trái phép 0,1326gam ma túy Heroine và Methamphetamine.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 170/CT-VKSTS ngày 15/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố NVL đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 và điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. NNĐ đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, NVL và NNĐ khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Khi bị cáo đang bán ma túy cho đối tượng Huấn để kiếm lời thì bị Công an bắt giữ. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định số ma túy đã thu giữ, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo NVL phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm i, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt NVL từ 36 tháng tù đến 40 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 14 tháng tù đến 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt từ 50 tháng đến 57 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Bị cáo NNĐ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt NNĐ từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy Mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ đựng mẫu vật được niêm phong trong phong bì thư kèm theo biên bản giao nhận ngày 05/6/2023 giữa Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Từ Sơn; 01 con dao lam đã qua sử dụng; 01 sim số 0364.399.761 và 01 sim số 0382.129.391.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc cân tiểu ly màu xám; 01 chiếc điện thoại iPhone 12promax, màu xanh; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
Các bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Từ Sơn, Điều tra viên Công an thành phố Từ Sơn, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện rõ: Khoảng 05 giờ ngày 03/6/2023, tại khu phố Chùa Dận, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, NVL mua 0,6994 gam ma túy Heroine và Methamphetamine với giá 700.000đ với mục đích về chia nhỏ để bán kiếm lời. Sau khi mua được số ma túy trên, Lê mang về phòng trọ tại khu phố Rích Gạo, phường Phù Chẩn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và chia thành 06 phần: Lê gói 04 phần với tổng khối lượng là 0,1038 gam ma túy Heroine vào bốn gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng giấy bạc, 01 gói giấy màu trắng chứa 0,1326 gam ma túy Methamphetamine và ma túy Heroien, còn lại 0,4630gam ma túy Heroine Lê vẫn để trong chiếc túi nilon màu trắng. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, khi NNĐ đến chơi thì Lê cho Đông gói nhỏ chứa chứa 0,1326 gam ma túy Heroine và Methamphetamine để Đông sử dụng. Tuy nhiên, Đông cầm gói ma túy trên về nhà tại khu phố Long Vỹ, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và chưa sử dụng số ma túy trên. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, NVL cầm 04 gói nhỏ chứa tổng cộng 0,1038 gam ma túy Heroine đến phòng trọ của BVH tại khu phố Rích Gạo, phường Phù Chẩn để bán cho Huấn với giá 1.000.000đ. Tuy nhiên, chưa kịp giao dịch thì Lê bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Ngoài ra, NVL còn tàng trữ tổng cộng 0,4630 gam ma túy Heroine tại phòng trọ mục đích để bán kiếm lời. Như vậy, tổng khối lượng ma túy NVL tàng trữ trái phép để bán là 0,5668 gam ma túy Heroine. NNĐ và NVL tàng trữ trái phép 0,1326 gam ma túy Heroine và Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo NVL đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo NNĐ đủ yếu tố cấu tành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố Từ Sơn. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng phạm vào tội nghiêm trọng quy định trong Bộ luật hình sự. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo. Nhưng khi lượng hình cần xem xét sau khi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo NNĐ sau khi phạm tội đã ra tự thú, bị cáo hoàn thành nghĩa vụ quân sự và có ông nội (ông Nguyễn Ngọc Ánh) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước, nhưng xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định mặt trước có ghi: “ Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ án ma túy liên quan đến NVL, sinh năm 2001, trú tại: CL, H, Văn Lãng, Lạng Sơn và NNĐ, sinh năm 2000, trú tại: Tân Xuân, BH, Yên Thế, Bắc Giang”. Mặt sau có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, 01 con dao lam, 01 sim số 0364.399.761, 01 cân tiểu ly mầu xám (đã qua sử dụng) và 01 sim số 0382.129.391.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại iPhone 12promax, màu xanh; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
Đối với người đã bán ma túy cho NVL: Bị can khai nhận không biết tên, tuổi, đặc điểm của người này như thế nào nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với BVH: Tuy Huấn là người gọi điện hỏi mua ma túy của Lê nhưng sau đó Huấn đã từ bỏ ý định mua ma túy, tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Mặt khác, thực tế giữa Huấn và Lê chưa thực hiện giao dịch mua bán trái phép chất ma ma túy, Huấn không tàng trữ bất kỳ khối lượng ma túy nào trên người nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo NVL phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm i, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: NVL 32 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 46 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2023.
Tuyên bố bị cáo NNĐ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng dụng điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: NNĐ 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Lê và bị cáo Đông.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê, bị cáo Đông 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định mặt trước có ghi: “ Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ án ma túy liên quan đến NVL, sinh năm 2001, trú tại: CL, H, Văn Lãng, Lạng Sơn và NNĐ, sinh năm 2000, trú tại: Tân Xuân, BH, Yên Thế, Bắc Giang”. Mặt sau có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, 01 con dao lam, 01 sim số 0364.399.761, 01 cân tiểu ly mầu xám (đã qua sử dụng); và 01 sim số 0382.129.391.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại iPhone 12promax, màu xanh; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê; bị cáo Đông mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 331 và Điều 333 BLTTHS. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND/VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND thành phố Từ Sơn; - Công an thành phố Từ Sơn; - Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; - Chi cục THA thành phố Từ Sơn (HLPL); - Người TGTT; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Phương |