- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Ng - Trần Thị Thùy V"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 234/2023/HNGĐ-ST Ngày 21 - 9 -2023 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Anh Minh
Ông Lê Ngọc Ân
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số 483/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Ng. Sinh năm: 1990 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp Tắc Thủ, Xã H, huyện T, tỉnh C.
- Bị đơn: Chị Trần Thị Thùy V. Sinh năm: 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 93T, đường Phan Bội Châu, Khóm 3, Phường B, thành phố C, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và được bổ sung tại phiên tòa nguyên đơn anh Ngô Ng trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Thùy V kết hôn năm 2010, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 143 ngày 04/6/2010. Quá trình chung sống lúc đầu hạnh phúc. Đến năm 2013, do bất đồng quan điểm trong hôn nhân thường xảy ra mâu thuẫn, gia đình hai bên có hàn gắng nhưng không thành. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị Thùy V.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Ngô Thái Kh, sinh ngày 12/4/2011, hiện đang sống cùng anh. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh Ng xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Ng xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Trần Thị Thùy V, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập chị V đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng chị V vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị V đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị V là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Ng và chị V xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Nay anh Ng xác định anh chị mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng với nhau và đã sống ly thân từ cuối năm 2013 đến nay nên anh yêu cầu được ly hôn với chị V. Để tạo điều kiện cho anh Ng và chị V hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Tòa án tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để tiến hành hòa giải nhưng chị V vắng mặt không rõ lý do, không gửi văn bản ý kiến về việc yêu cầu ly hôn của anh Ng, việc này cho thấy chị V cũng không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, anh Ng kiên quyết xin ly hôn với chị V. Xét thấy, hôn nhân của anh Ng, chị V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Ng về việc xin ly hôn với chị Trần Thị Thùy V.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống anh, chị có 01 người con chung tên Ngô Thái Kh, sinh ngày 12/4/2011, hiện đang sống cùng anh Ng và anh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Kh. Xét thấy yêu cầu của anh Ng phù hợp với nguyện vọng của cháu Kh nên được chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, việc anh Ng không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với chị V là tự nguyện nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về nợ chung: Đương sự xác định không có nợ chung và không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Anh Ng phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Ng xin ly hôn với chị Trần Thị Thùy V.
2. Về con chung: Giao con chung tên Ngô Thái Kh, sinh ngày 12/4/2011 cho anh Ng tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra cấp dưỡng đối với chị V. Chị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Anh Ngô Ng phải chịu án phí hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng, ngày 26/7/2023, anh Ng nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003772 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ, chuyển thu ngân sách nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Anh Ng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp. Cà Mau; - Chi cục THADS Tp. Cà Mau; - UBND Xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hồng Xuyên |