vanban.org

Bản án 234/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D; Nguyễn Thế H; Đậu Đăng M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dương - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 234/2022/HS-ST
Ngày: 21-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Liên

Thư ký phiên toà: Ông Vương Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 173/2022/TLST - HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 173/2022/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2022/HSST-QĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn D. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02 tháng 04 năm 1998, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, họ và tên mẹ: Lê Thị B; anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2022 đến ngày 25/9/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 26/9/2022. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thế H. Gới tính: N. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 23 tháng 5 năm 2004, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn Thanh P, họ và tên mẹ: Trần Thị N1; anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 25/7/2022, Nguyễn Thế H bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 120/2022/HSST.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2022 tại nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Đậu Đăng M. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20 tháng 08 năm 1992, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Đậu Đăng T1, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị X; anh chị em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị H1. Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2022 đến ngày 03/7/2022 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/7/2022. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Đăng D1, sinh năm 1965. Vắng mặt

Trú tại: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

- Người làm chứng:

1. Anh Trần Văn C, sinh năm 1998

Trú tại: Xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

2. Võ Anh T2, sinh năm 2004

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An.

3. Anh Võ Văn S, sinh năm 1997

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An.

4. Anh Võ Minh T3, sinh năm 1999

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An.

5. Anh Nguyễn Hồ anh V, sinh năm 2004

Trú tại: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An

6. Anh Tăng Khắc C1, sinh năm 1999

Trú tại: Xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An

(Những người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 17/6/2022, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thế H và Đậu Đăng M cùng một số người bạn đến nhà Võ Văn T4, sinh năm 2004, trú tại thôn T, xã M, huyện D ăn mừng sinh nhật. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, Võ Văn T4 mời tất cả bạn bè đến phòng Vip 3 của quán K có địa chỉ tại K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An để hát Karaoke. Sau đó, nhóm của Võ Văn T4 đi ra đứng trước quán K khu vực đường Q và phía trước nhà nghỉ P1, địa chỉ xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nhóm bạn của T4 nói chuyện, trêu đùa to tiếng, lúc này ông Trần Đăng D1, sinh năm 1965, trú tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (chủ nhà nghỉ P1) đang ở trong nhà nghỉ nghe to tiếng bên ngoài cổng nên nói to cho nhóm của Võ Văn T4 nghe: “Bay đập nhau thì đi chỗ khác mà đập”. Nghe vậy Nguyễn Văn D, Đậu Đăng M đi vào phòng khách nhà nghỉ P1. Tại đây, D và M nói to tiếng với ông D. Nguyễn Văn D nói nhiều lần với ông Trần Văn D2 “Ông thích chi”. Do bị đe dọa nên ông Trần Đăng D1 đi vào phòng ngủ đóng cửa lại cùng vợ và hai con. Sau đó, Trần Văn C, sinh năm 1998, trú tại xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cùng một số người bạn (đang ở ngoài cổng nhà nghỉ ) vào can ngăn và dùng tay kẹp cổ D1 và M đưa ra ngoài thì Nguyễn Văn D vùng ra khỏi tay của C; D đi lại cửa phòng ngủ rồi dùng tay trái kéo cửa phòng ra nhưng không mở được nên nói to “Ông mở cửa ra đây”. Lúc này Đậu Đăng M chạy vào nhảy lên đạp vào cửa phòng ngủ tuy nhiên cửa không bị hư hỏng gì. Sau đó mọi người can ngăn và đưa Nguyễn Văn D và Đậu Đăng M ra khỏi phòng khách nhà nghỉ P1. Sau khi ra khỏi phòng khách, Nguyễn Văn D, Đậu Đăng M cùng nhóm bạn ra đứng phía trước quán K. Một lúc sau, Đậu Đăng M muốn vào dằn mặt ông Trần Đăng D1 nên M quay lại đi vào phòng khách nhà nghỉ P1, M vừa đi vừa chỉ tay vào cửa phòng ngủ và nói to “Ông ra đây, ra đây”, rồi đi đến đứng sát cửa phòng ngủ. Nguyễn Văn D, Nguyễn Thế H cùng một số người bạn trong nhóm D đi vào phòng khách nhà nghỉ P1, mọi người can ngăn thì M cùng H đi ra ngoài; còn D đứng lại trước cửa phòng ngủ dùng tay trái nắm cửa phòng ngủ kéo, dật ra nhưng không được và dùng chân đạp vào tấm kính phía dưới của cửa phòng ngủ làm tấm kính bị rạn nứt. Sau đó Võ Anh T2 đi vào can ngăn và ôm Nguyễn Văn D đẩy ra, khi đi đến gần cửa chính của phòng khách thì Nguyễn Văn D vung hai chân đạp vào tủ nhôm kính (để mép phía tây phòng khách) làm tấm kính phía trước của tủ bị vỡ. Lúc này, thấy D và M chửi bới to tiếng và yêu cầu ông D mở cửa phòng ngủ ra nhưng không mở nên Nguyễn Thế H đang đứng trước nhà nghỉ Phương A nhặt 01viên gạch chạy vào trong nhà nghỉ C2. H cầm viên gạch ở tay phải định đập cửa phòng ngủ, thì nhóm bạn vào vào can ngăn và đưa H ra. Còn Nguyễn Văn D tiếp tục đi vào đứng trước cửa phòng ngủ chửi bới to tiếng và dọa gia đình ông D. D dùng chân phải đạp vào cửa phòng ngủ làm tấm kính phía dưới bị vỡ. Sau đó, Nguyễn Văn D và nhóm bạn ra về.

Đến khoảng 23 giờ 10 phút , ngày 17/6/2022, ông Trần Đăng D1 trình báo vụ việc đến Công an xã D, huyện D. Công an xã D tiến hành khám nghiệm hiện trường, lập biên bản sự viêc.

Ngày 24/6/2022 Công an xã D, huyện D chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 27 và 28/6/2022, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Văn D, Nguyễn Thế H và Đậu Đăng M đã tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 29/6/2022, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện D xác định trị giá tài sản bị thiệt hại cụ thể như sau:

-01 cửa nhôm kính, có kích thước (2,05 x 0,76)m, trên cửa có một tấm kính, kích thước (63 x 63) cm, loại kính màu (kính trà) có độ dày 04 mm, bị vỡ hoàn toàn có giá 200.000 đồng.

- 01 tủ nhôm kính, có kích thước (2,5 x 1,5 x 0,44)m, tại vị trí tấm kính phía trước có kích thước (1,25 x 1,1) m, loại kính trắng có độ dày 04 mm, bị vỡ hoàn toàn có giá 344.000 đồng.

-Tiền công: 200.000 đồng.

Tổng là 744.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 195/CT-VKS-DC ngày 29/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Thế H về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Đậu Đăng M về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 24 tháng đến 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 52 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H từ 22 tháng đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 120/2022/HSST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 26 tháng đến 28 tháng tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đậu Đăng M từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Đăng D1 đã được các bị cáo bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc kiếm tự chế có kích thước dài khoảng 75cm, lưỡi bằng kim loại dài 50 cm và rộng 03 cm, đầu lưỡi nhọn làm bằng thép, cán dao bằng gỗ dài 25 cm được thu giữ tại hiện trường (chưa xác định được chủ sở hữu).

- Lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Hôc màu đen, dung lượng 8G, bên trong USB chứa đoạn Video dài 30 phút 11 giây do ông Trần Đăng D1 cung cấp, là vật chứng của vụ án.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

. Về việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho họ; mặt khác lời khai của họ đã đầy đủ tại hồ sơ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng.

. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với nhau, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/6/2022, tại nhà nghỉ P1 có giấy phép đăng ký kinh doanh số: 27.M.8.001143 mang tên ông Trần Đăng D1 (tiếp giáp đường Quốc lộ 7A), thuộc địa phận xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Văn D đã có hành vi đe dọa, chửi bới to tiếng và đập phá tài sản (Tủ kính và cửa kính) của gia đình ông Trần Đăng D1 gây thiệt hại về tài sản có trị giá là 744.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng); Nguyễn Thế H có hành vi chửi bới to tiếng và cầm 01(viên) gạch với ý định đập cửa phòng ngủ; Đậu Đăng M có hành vi đe dọa, chửi bới to tiếng ông Trần Văn D2, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng".

Bị cáo Trần Văn D2 có hành vi phá phách, đe dọa, chửi bới to tiếng và đập phá tài sản (Tủ kính và cửa kính) của gia đình ông Trần Đăng D1, bị cáo Nguyễn Thế H có hành vi chửi bới to tiếng và cầm 01(viên) gạch với ý định đập cửa phòng ngủ của nhà nghỉ P1. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Trần Văn D2 và Nguyễn Thế H với tình tiến định khung “Dùng hung khí hoặc có hành vi phá phách” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Đậu Đăng M có hành vi đe dọa, chửi bới to tiếng với ông Trần Văn D2, không sử dụng hung khí, không tiếp nhận ý chí của các bị cáo khác về việc sử dụng hung khí nên bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi thực hiện của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự án toàn công cộng, đến các quy tắc sinh hoạt, chỗ ở và nơi kinh doanh của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo sợ và ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của người dân sinh sống, làm ăn trên địa bàn. Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đều nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện một cách manh động, ngông cuồng, thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần phải lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung như ý kiến của Kiểm sát viện tại phiên tòa.

. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia, sự liên kết trong hành vi của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Thế H thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo Đậu Đăng M thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần đánh giá vai trò, mức độ tham gia, tính chất hành vi, hậu quả của tội phạm cũng như nhân thân của từng bị cáo để lên mức hình phạt tưng xứng.

. Đối với bị cáo Nguyễn Văn D là người thực hiện hành vi gây rối với vai trò là người khởi xướng từ đầu, làm mất an ninh trật tự công cộng. Vì vậy, bị cáo D là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

. Đối với bị cáo Nguyễn Thế H là người hành động tích cực, ngoài hành vi chửi bới, to tiếng với ông Trần Đăng D1 ra, bị cáo còn cầm 01 viên gạch có ý định đập cửa phòng ngủ của nhà nghỉ P1, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Nên Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo có vai trò thứ hai sau bị cáo Nguyễn Văn D.

. Đối với bị cáo Đậu Đăng M có hành vi đe dọa, chửi bới to tiếng với ông Trần Văn D2 cùng với bị cáo D2 và bị cáo H, không sử dụng hung khí nhưng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nên Hội đồng xét xử đánh giá có vai trò thứ ba sau bị cáo D2 và bị cáo H.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng năng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Trần Văn D2, Nguyễn Thế H, Đậu Đăng M sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông Trần Đăng D1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn và sau khi phạm tội đã ra Cơ quan điều tra Công an huyện D để đầu thú; chứng tỏ các bị cáo thực sự biết ăn năn, hối cải. Bị cáo Đậu Đăng M có cả bố và mẹ có công với Cách mạng, được tặng H2, Huy chương kháng chiến hạng ba và hạng nhì; bị cáo Nguyễn Thế H có ông nội Nguyễn Văn N2 có công với Cách mạng, được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Đậu Đăng M phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo; bị cáo Đậu Đăng M được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật của Nhà nước. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thế H là thành niên mới lớn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nghĩ xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đủ nghiêm có tính răn đe và giáo dục cao.

Bị cáo Nguyễn Thế H có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số: 120/2022/HSST ngày 25/7/2022. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét thấy, bị cáo Trần Văn D2, Đậu Đăng M có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho hai bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình như đề nghị của đại diện viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

. Về các nội dung khác: Các bị cáo có hành vi đập phá tài sản nhưng trị giá thiệt hại về tài sản dưới 02 triệu đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản người khác”.

. Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Đăng D1 được các bị cáo bồi thường thiệt hại nay không yêu cầu gì thêm.Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng: Vật chứng thu giữ trong vụ án là 01 chiếc kiếm tự chế có kích thước dài khoảng 75cm, lưỡi bằng kim loại dài 50 cm và rộng 03 cm, đầu lưỡi nhọn làm bằng thép, cán dao bằng gỗ dài 25 cm được thu giữ tại hiện trường (chưa xác định được chủ sở hữu), không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu hủy.

Lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Hôc màu đen, dung lượng 8G, bên trong USB chứa đoạn Video dài 30 phút 11 giây do ông Trần Đăng D1 cung cấp.

Đối với 01 viên gạch mà Nguyễn Thế H đã sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã truy tìm nhưng không thu giữ được nên không có cơ sở để xử lý.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D; Nguyễn Thế H; Đậu Đăng M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H 22 (Hai mươi hai) tháng tù.

Tổng hợp 04 (B1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 120/2022/HSST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 26 (Hai mươi sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/6/2022.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 21/12/2022).

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đậu Đăng M 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 21/12/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời hạn thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Đậu Đăng M cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời hạn thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 (Một) USB nhãn hiệu Hôc màu đen, dung lượng 8G, bên trong USB chứa đoạn Video dài 30 phút 11 giây do ông Trần Đăng D1 cung cấp.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) chiếc kiếm dài 75cm, cán bằng gỗ dài 25 cm, lưỡi bằng kim loại dài 50 cm và rộng 03 cm, đầu kiếm nhọn. (Vật chứng hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và Phiếu Nhập kho ngày 19/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).

3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Thế H, Đậu Đăng M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ