- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Thái Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TH NH H H CH M NH Bản án số: 234/2021/HS-ST Ngày: 23-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI TH NH PH H CH MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn hước Trinh.
2. Ông Thái Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà hạm Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 213/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quốc T (Trùm Lớn), sinh năm 1986, tại huy n C Thành phố H Ch Minh; nơi đăng ký h khẩu thư ng trú: Ấp 9A, xã T huy n C Thành phố H Ch Minh; nghề nghi p: Buôn bán; trình đ văn hóa: 7/12; dân t c: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Lê Văn T sinh năm 1954 (đã chết) và bà Trần Thị N sinh năm 1954; anh chị em ru t g m có 03 ngư i kể cả bị cáo; vợ bà Nguyễn Thị Thu H sinh năm 1989 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2007.
Tiền án tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 17/3/2009 bị Tòa án nhân dân huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh xử phát 02 (hai) năm tù về t i “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao thông đư ng b ”. Ngày 30/8/2010 chấp hành án xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển sang tạm giam từ ngày 06/6/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 gi 30 phút ngày 06/6/2021 T điều khiển xe đạp hi u Martin 107 màu đen đi từ nhà của T tại 9A xã T huy n C Thành phố H Ch Minh đến đoạn đư ng giao thông nông thôn thu c ấp 8 xã B huy n C Thành phố H Ch Minh để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi T dừng xe lại và sử dụng đi n thoại di đ ng hi u Nokia của T để gọi vào số thuê bao di đ ng 0921206049 để hỏi mua của m t ngư i thanh niên (chưa rõ lai lịch) m t gói ma túy với số tiền 1.000.000 đ ng ngư i thanh niên đ ng ý bán và bảo T đứng đợi. Đến khoảng 14 gi 00 phút cùng ngày có m t ngư i phụ nữ (chưa rõ lai lịch) đến gặp T và lấy số tiền 1.000.000 đ ng r i bỏ đi. Ngay sau đó ngư i thanh niên bán ma túy gọi đi n thoại cho T và bảo T tiếp tục đứng đợi. M t lúc sau có m t ngư i phụ nữ khác (không rõ lai lịch) đến bảo T đi theo được m t đoạn khoảng 100 mét r i dừng lại và chỉ cho T biết ma túy được bỏ trong m t bao thuốc lá hi u Jet đã để sẵn ở bên lề đư ng r i bỏ đi. T đi đến nhặt bao thuốc lá mở ra xem thì thấy có m t gói nylon bên trong có chứa ma túy T lấy ma túy cất vào bên trong chiếc khẩu trang đang đeo và vứt bao thuốc lá lại r i điều khiển xe đạp đi n đi về nhà. Khi đến đư ng giao thông nông thôn thu c 9A, xã T huy n C Thành phố H Ch Minh thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra t i phạm về ma túy Công an huy n Củ Chi đang tuần tra phát hi n T có biểu hi n nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hi n T đang tàng trữ ma túy như đã nói trên nên đã lập biên bản phạm t i quả tang.
Theo bản kết luận giám định số 3791/KLGĐ-H ngày 14/6/2021 của hòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H Ch Minh kết luận: Gói 1: B t màu trắng được ký hi u mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0 8829 g (không phẩy tám tám hai chín gam) loại Heroine. Gói 2: B t màu trắng được ký hi u mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0 0367 g (không phẩy không ba sáu bảy gam), loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 215/CT-VKS-CC ngày 14/10/2021 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huy n Củ Chi để xét xử Lê Quốc T về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm t i như đã nêu trên.
Tại phiên tòa đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố luận t i: L i khai nhận t i của bị cáo phù hợp với n i dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại h sơ. Vào khoảng 14 gi 35 phút ngày 06/6/2021 tại đư ng giao thông nông thôn thu c ấp 9A, xã T huy n C Thành phố H Ch Minh Đ i cảnh sát điều tra t i phạm về ma túy công an huy n Củ Chi đang tuần tra thì phát hi n Lê Quốc T đang điều khiển điều khiển xe đạp đi n hi u Martin 107 có biểu hi n nghi vấn nên kiểm tra phát hi n bắt quả tang Lê Quốc T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 0.9196g (không phẩy ch n m t ch n sáu gam), loại Heroine. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quốc T đã phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo là ngư i có đủ năng lực hành vi để biết vi c tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đ ch thỏa mãn cơn nghi n mà vẫn thực hi n. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm xâm phạm trật tự quản lý Nhà nước về dược li u dược phẩm đ c hại gây mất trật tự tại địa phương gây dư luận không tốt trong nhân dân nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc và cách ly ra khỏi xã h i m t th i gian.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đề nghị H i đ ng xét xử:
- p dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Quốc T mức án 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- Về xử lý vật chứng:
+ 01 (m t) chiếc xe đạp đi n nhãn hi u Martin 107 màu đen đã trả lại cho chủ sở hữu.
+ 02 (hai) gói niêm phong mang số vụ 3791/21 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán b điều tra là ma túy đề nghị tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (m t) chiếc đi n thoại di đ ng nhãn hi u Nokia số mei: 354579/05/042443/6 đề nghị tịch thu n p Ngân sách Nhà nước.
+ 03 (ba) cây kim tiêm đã qua sử dụng 05 (năm) đoạn ống hút nhựa không chứa gì 01 (m t) lưỡi dao lam đã qua sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với ngư i ngư i thanh niên đã bán ma túy ngư i phụ nữ lấy tiền mua ma túy và ngư i phụ nữ chỉ chỗ giao ma túy cho T đều chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi sẽ điều tra làm rõ và xử lý sau.
Bị cáo Lê Quốc T không tranh luận không tự bào chữa.
L i nói sau cùng của bị cáo Lê Quốc T: Bị cáo biết hành vi của mình là sai xin H i đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ:
Trên cơ sở n i dung vụ án căn cứ vào các tài li u trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa H i đ ng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi Điều tra viên Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng ngư i tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng ngư i tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc T đã khai nhận hành vi phạm t i đúng như cáo trạng đã truy tố. L i khai nhận t i của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang và các chứng cứ có trong h sơ vụ án: Vào khoảng 14 gi 35 phút ngày 06/6/2021 tại đư ng giao thông nông thôn thu c ấp 9A xã T, huy n C Thành phố H Ch Minh Đ i cảnh sát điều tra t i phạm về ma túy công an huy n Củ Chi đang tuần tra thì phát hi n Lê Quốc T đang điều khiển điều khiển xe đạp đi n hi u Martin 107 có biểu hi n nghi vấn nên kiểm tra phát hi n bắt quả tang Lê Quốc T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 0.9196g (không phẩy ch n m t ch n sáu gam) loại Heroine. Do đó, H i đ ng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quốc T đã phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý dược li u dược phẩm đ c hại gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Hơn nữa hành vi của bị cáo tàng trữ chất ma túy để sử dụng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bị cáo và có khả năng là nguyên nhân gây ra các t i phạm khác. Bị cáo nhận thức được vi c tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghi n của bản thân mà bị cáo đã bất chấp thực hi n hành vi phạm t i. Do đó H i đ ng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành ngư i công dân tốt cho xã h i.
[4] Tuy nhiên H i đ ng xét xử cũng xem xét tính chất và mức đ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về t i “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao thông đư ng b ”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù nhưng bị cáo vẫn không thay đổi bản thân mà tiếp tục thực hi n hành vi phạm t i.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do đó H i đ ng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung: H i đ ng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 B luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về xử lý vật chứng:
+ 01 (m t) chiếc xe đạp đi n nhãn hi u Martin 107 màu đen do Lê Quốc T mượn đi mua ma túy là xe của Lê Thị Bảo T làm chủ sở hữu. Lê Thị Bảo T không biết T mượn xe đi mua ma túy Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huy n Củ Chi đã trả lại cho chủ sở hữu (BL 74) H i đ ng xét xử xét thấy là có cơ sở chấp nhận.
+ 02 (hai) gói niêm phong ghi số vụ 3791/21 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán b điều tra H i đ ng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (m t) chiếc đi n thoại di đ ng nhãn hi u Nokia số mei: 354579/05/042443/6 là phương ti n Lê Quốc T sử dụng để liên h mua ma túy nên H i đ ng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
+ 03 (ba) cây kim tiêm đã qua sử dụng 05 (năm) đoạn ống hút nhựa không chứa gì 01 (m t) lưỡi dao lam đã qua sử dụng là dụng cụ Lê Quốc T sử dụng ma túy nên H i đ ng xét xử quyết định tịch thu n p Ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với ngư i thanh niên đã bán ma túy ngư i phụ nữ lấy tiền mua ma túy và ngư i phụ nữ chỉ chỗ giao ma túy cho T hi n chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi sẽ điều tra làm rõ và xử lý sau.
Những xử lý trên của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi, H i đ ng xét xử xét thấy phù hợp.
[8] Căn cứ vào Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật ph và L ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu miễn giảm thu n p quản lý và sử dụng án ph và l ph Tòa án, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đ ng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Quốc T 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn tù t nh từ ngày 06/6/2021.
Căn cứ Điều 47 của B luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) gói niêm phong ghi số vụ 3791/21 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán b điều tra 03 (ba) cây kim tiêm đã qua sử dụng 05 (năm) đoạn ống hút nhựa không chứa gì 01 (m t) lưỡi dao lam đã qua sử dụng.
- Tịch thu n p Ngân sách Nhà nước: 01 (m t) chiếc đi n thoại di đ ng nhãn hi u Nokia số mei: 354579/05/042443/6.
(Các vật chứng nêu trên được li t kê tại hiếu nhập kho vật chứng 183/PNK ngày 04/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi (BL 71B)).
Căn cứ vào Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật ph và L ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu miễn giảm thu n p quản lý và sử dụng án ph và l ph Tòa án.
Bu c bị cáo Lê Quốc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đ ng) tiền án ph hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp. H Ch Minh; - VKSND huy n Củ Chi; - Công an huy n Củ Chi; - Chi cục THADS huy n Củ Chi; - Phòng PC 27; - Bị cáo đương sự; - Lưu: Vp h sơ. (12b) | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHI N TÒA (Đã ký) Nguyễn Quang Định |