vanban.org

Bản án 234/2021/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/07/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Phúc thẩm Bản án 260/2020/HS-PT Tuyên án 29/05/2020
Phúc thẩm — đang xem Bản án 234/2021/HS-PT Tuyên án 05/07/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Ngọc V - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!
Bản án số: 234/2021/HS-PT
Ngày: 05-07-2021

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Đặng Hồng Sơn

Các"thẩm"phán:"" 1/ Ông Vũ Văn Lệ"

2/ Ông Trần Minh Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 07 năm 2021 và tuyên án vào ngày 05 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 164/2021/TLPT-HS, ngày 04/5/2021 đối với bị cáo Lê Thị Ngọc V do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị Ngọc V đối với bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HSST ngày 09/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh.

-"Bị"cáo"có"kháng"cáo:

Lê!Thị!Ngọc!V; giới tính: nữ; sinh năm 1991, tại tỉnh Đắk Lắk; đăng ký thường trú: thôn TĐ, xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: xã VB, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê C và bà Hồ Thị H; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà)

- Trong vụ án còn có các bị cáo HĐ, Nguyễn L, Châu Hoài T, Trần Thành N, Lâm Văn Q có kháng cáo và đã được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm tại bản án hình sự phúc thẩm số 260/2020/HSPT ngày 29/5/2020. Việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Thị Ngọc V kháng cáo xin hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền đã được xét xử phúc thẩm theo bản án trên, nhưng bị Tòa án nhân dân cấp cao, tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy theo kháng nghị giám đốc thẩm của Viên kiểm sát nhân dân cấp cao, tại Thành phố Hồ Chí Minh, để xét xử lại theo trình từ phúc thẩm, do không liên quan đến kháng cáo của bị cáo V nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập phiên tòa phúc thẩm.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 8/2019, tại trước nhà số C6A/1B ấp 3A, xã VB, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi Lê Thị Ngọc V bán nước giải khát, có một số người đến quán của V uống nước và mang theo bài tây 52 lá ra chơi bài cào 03 lá ăn tiền với nhau. V biết khách đến uống nước, đánh bài ăn thua bằng tiền nhưng không có ý kiến gì và khi người làm cái thắng thì cho V từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Sau đó, người đến quán của V tham gia đánh bạc thường xuyên hơn nên V chuẩn bị sẵn bài tây để đánh bạc. Khoảng 18 giờ ngày 18/8/2019 V, HĐ, Nguyễn L, Châu Hoài T, Trần Thành N, Lâm Văn Q cùng với N2, H2 (chưa rõ lai lịch) cùng tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền tại quán nước của Lê Thị Ngọc V. Hình thức đánh bạc là sử dụng bộ bài tây 52 lá, trong đó 01 người làm nhà cái và nhiều người đặt tụ. Mỗi ván bài nhà cái chia mỗi tụ 03 lá bài rồi sau đó tính điểm xác định thắng thua với tụ bài của nhà cái, số tiền xác định thắng thua tương ứng với số tiền của người đặt tụ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi Lâm Văn Q đang làm cái, các đối tượng khác tham gia đặt tụ thì bị công an bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Tiền trên chiếu bạc 2.500.000 đồng, 01 bộ bài tây 52 lá, 07 cái ghế khung sắt và 01 bàn gỗ.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận như sau:

- Ngày 18/8/2019, Lê Thị Ngọc V có 13.070.000 đồng, sau đó có người phụ nữ tên Hằng đến trả nợ 2.000.000 đồng tiền vay và Lê Thị Ngọc V thu tiền xâu được 150.000 đồng. Trước khi bị bắt Lê Thị Ngọc V có tham gia đánh bạc, đặt tụ 9 ván bài, thua 2.000.000 đồng, sau đó V đưa cho Nguyễn L 2.000.000 đồng để đánh bạc giúp V. Khi bị bắt quả tang thu giữ Lê Thị Ngọc V 11.220.000 đồng, kể cả 150.000 đồng tiền xâu thu được.

- Nguyễn L đến sòng bạc mang theo 930.000 đồng nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại đây, Nguyễn L được Lê Thị Ngọc V đưa 2.000.000 đồng để đánh bạc. Nguyễn L tham gia đặt tụ được 09 ván bài, thắng được số tiền 1.500.000 đồng. Ván bị bắt quả tang, Nguyễn L tham gia đặt tụ 500.000 đồng và bị thu giữ số tiền 3.930.000 đồng (trong đó có 3.000.000 đồng dùng để dánh bạc và 930.000 đồng là tiền L mang đến sòng bạc).

- Lâm Văn Q đến sòng bạc mang theo 1.250.000 đồng, sử dụng hết số tiền này để đánh bạc. Tại đây, Quí tham gia đánh bạc, làm nhà cái và đã thua hết số tiền mang đến. Sau đó, Quí tiếp tục làm cái và nhờ Châu Hoài T chia bài giùm, thắng được 100.000 đồng. Ván bị bắt quả tang Châu Hoài T chưa kịp chia bài thì công an kiểm tra bắt quả tang nên Lâm Văn Q bỏ chạy về nhà. Sau đó đến Công an xã VB, huyện X đầu thú và giao nộp số tiền 100.000 đồng dùng để đánh bạc.

- Châu Hoài T đến sòng bạc mang theo 932.000 đồng, sử dụng 800.000 đồng để đánh bạc và tham gia đặt tụ 06 ván thua hết 800.000 đồng nên nghỉ. Sau đó, chuyển sang chia bài giùm cho Lâm Văn Q được 02 ván thì bị bắt quả tang, bị thu giữ số tiền 132.000 đồng (không sử dụng để đánh bạc).

- HĐ đến sòng bạc mang theo 1.000.000 đồng, sử dụng để đánh bạc hết số tiền này. HĐ tham gia đặt tụ 06 ván bài trong đó 03 ván thắng, 03 ván thua. Khi bị bắt quả tang bị thu giữ 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc.

- Trần Thành N đến sòng bạc mang theo 650.000 đồng, sử dụng để đánh bạc hết số tiền này. Trần Thành N tham gia đặt tụ 02 ván, mỗi ván 100.000 đồng nhưng đều bị thua. Ván bị bắt quả tang Trần Thành N chuẩn bị đặt tụ 100.000 đồng thì công an vào kiểm tra nên bỏ luôn số tiền còn lại 450.000 đồng trên chiếu bạc.

Tại"bản"án"hình"sự"sơ"thẩm"số"02/2020/HSST"ngày"09/01/2020"của"Tòa"án" nhân"dân"huyện"X,"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"đã"quyết"định:"

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc V 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Ngọc V 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, tuyên nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 20/01/2020 Lê Thị Ngọc V xin hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền;

Tại"bản"án"hình"sự"phúc"thẩm"số"260/2020/HSPT"ngày"29/5/2020"của"Tòa" án"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"đã"quyết"định:"

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Ngọc V. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HSST ngày 09/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt Lê!Thị!Ngọc!V 03 (Ba) năm Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án hoặc bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Thị Ngọc V cho Ủy ban nhân dân xã VB, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian Cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Lê Thị Ngọc V có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã VB, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Người bị kết án Cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Thị Ngọc V.

Tại"bản"án"Giám"đốc"thẩm"số"04/2021/HS-"GĐT,"ngày"01/02/2021"của"Tòa" án"nhân"dân"cấp"cao"tại"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"quyết"định:

1. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 260/2020/HSPT ngày 29/5/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần trách nhiệm hình sự của bị cáo Lê Thị Ngọc V.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

4. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm đối với bị cáo Lê Thị Ngọc V.

5. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Thị Ngọc V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền vì bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn cha, mẹ già, bản thân là lao động chính có việc làm ổn định, đồng thời khi cấp phúc thẩm lần phạt bị cáo cải tạo không giam giữ, thì bị cáo đã chấp hành hình phạt tại xã VB, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh, với thành tích tốt và không có vi phạm gì.

Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên" tòa"đưa"ra"ý"kiến"phát"biểu:"Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo V là đúng người, đúng tội. Về tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo Lê Thị Ngọc V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cấp sơ thẩm áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo này là có căn cứ, đúng luật. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào mới nên không có cơ sở đê xem xét. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V và y án sơ thẩm.

Bị cáo Lê Thị Ngọc V không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền vì bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn cha, mẹ già, bản thân là lao động chính có việc làm ổn định, đồng thời đã chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ tháng 7/2020 cho đến nay và chấp hành tốt, không có bất cứ vi phạm gì.

Qua đối đáp và tranh luận, đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đều giữ nguyên quan điểm đã phát biểu.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Ngày 09/1/2020, Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Đến ngày 20/01/2020 Lê Thị Ngọc V xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lê Thị Ngọc V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng đầu tháng 8/2019, Lê Thị Ngọc V bán nước giải khát, có một số người đến quán của V uống nước và mang theo bài tây 52 lá ra chơi bài cào 03 lá ăn tiền với nhau, nhưng không có ý kiến gì và khi người làm cái thắng thì cho V từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Sau đó, khoảng 18 giờ ngày 18/8/2019 V, HĐ, Nguyễn L, Châu Hoài T, Trần Thành N, Lâm Văn Q cùng với N2, H2 (chưa rõ lai lịch) cùng tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền tại quán nước của Lê Thị Ngọc V. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi Lâm Văn Q đang làm cái và các đối tượng khác tham gia đặt tụ thì bị công an bắt quả tang. Riêng Lê Thị Ngọc V trước khi các đối tượng đánh bạc trên bị bắt quả tang, thì bị cáo V có tham gia đánh bạc, đặt tụ 9 ván bài, thua 2.000.000 đồng, sau đó bị cáo V nghỉ và có đưa cho Nguyễn L 2.000.000 đồng để thay vị trí của V tiếp tục đánh bạc, thì Nguyễn L bị bắt quả tang. Nên hành vi của bị cáo Lê Thị Ngọc V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Tòa án nhân dân huyện X đã xét xử bị cáo Lê Thị Ngọc V về tội “Đánh"bạc”"theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị Ngọc V:

Về hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là: Bị cáo phạm tội lần đầu và trong trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cấp sơ thẩm áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền, với các tình tiết là: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn cha, mẹ già, bản thân là lao động chính có việc làm ổn định song bị cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở để xem xét. Tuy nhiên, bị cáo đã bị cấp phúc thẩm xét xử lần một và chuyển hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm tù thành 03 năm cải tạo không giam giữ, khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thì bị cáo đã chấp hành hình phạt tại Ủy ban nhân dân xã VB, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 7/2020 đến nay, chấp hành tốt và chưa phát hiện vi phạm mới (có xác nhận của công an xã VB). Sau đó, bị cáo bị cấp giám đốc thẩm hủy một phần án phúc thẩm để xét xử lại với lý do đảm bảo tính công bằng giữa các bị cáo trong vụ án. Mặt khác, việc khởi tố vụ án chỉ căn cứ trên cơ sở biên bản bắt người phạm tội quả tang, lúc này bị cáo V là người không trực tiếp tham gia đánh bạc, số tiền thu giữ là 6.600.000 đồng (bao gồm: thu giữ tại chiếu bạc là 2.500.000 đồng, thu giữ của những người tham gia đánh bạc là 4.100.000 đồng), qua điều tra đã xác định thu giữ của bị cáo V số tiền 150.000 đồng là tiền xâu mà người tham gia đánh bạc thắng cho bị cáo (mỗi lần cho V từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng), là không lớn. Tại phiên tòa, bị cáo khai mục đích nhận tiền của người đánh bạc tại quán của bị cáo là để bán nước giải khát là chính, ngoài ra những bị cáo khác đều tự đến quán của bị cáo uống nước rồi đánh bạc, bị cáo không rủ rê, lôi kéo hoặc xúi giục, đồng thời những người đánh bạc tự nguyện cho tiền bị cáo sau khi đánh thắng mà bị cáo hoàn toàn không yêu cầu họ phải nộp tiền xâu.

Từ đó, có cơ sở để xét vai trò bị cáo V không phải là người chủ mưu, cầm đầu, ngoài ra bản thân bị cáo mới phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, từ khi bị phát hiện bị cáo được tại ngoại cho đến nay là trên 18 tháng thì bị cáo đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật, thể hiện sự ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo. Như vậy, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã nêu trên, nhân thân và nơi cư trú rõ ràng của bị cáo, cũng như tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt 01 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách là cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo.

[4] Lập luận trên đây cũng là căn cứ để không chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã phát biểu tại phiên tòa về việc không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thị Ngọc V và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí: Bị cáo Lê Thị Ngọc V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên!"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Ngọc V và sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HSST ngày 09/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Lê Thị Ngọc V.

2. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Lê! Thị! Ngọc! V: 01 (một) năm tù, về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/7/2021).

Giao bị cáo Lê Thị Ngọc V cho Ủy ban nhân dân xã VB, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú của bị cáo để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu Lê Thị Ngọc V cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp Lê Thị Ngọc V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

- Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Ngọc V 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

3. Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án,

Bị cáo Lê Thị Ngọc V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

Cỡ chữ