- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tường phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 234/2020/HS-ST Ngày 25- 6- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Ông Tô Văn Nhung.
.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 188/2020/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 150/2020/HSST-QĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 tại tỉnh Bạc Liêu; thường trú: Ấp C, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1953 và bà Lê Thị D, sinh năm: 1955; có vợ Trần Mỹ L, sinh năm: 1986 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 12/02/2020, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Nguyễn Văn G; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine từ tháng 11/2019 cho đến khi bị bắt.
Ngày 12/02/2020, Nguyễn Văn T đi xe Grap Bike đến khu vực cầu vượt H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp người đàn ông tên X (không rõ nhân thân lai lịch), T nhờ X mua giùm 500.000 đồng ma túy đá để về sử dụng. Sau khi nhận ma túy T bỏ gói ma túy vào túi quần phía trước, bên phải rồi đi xe Grap đến nhà nghỉ A thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, Bình Dương để sử dụng. Khi vào nhà nghỉ A, bị lực lượng Công an kiểm tra, T lấy trong túi quần ra 01 gói ma túy giao nộp. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú đối với Nguyễn Văn T và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Căn cứ Kết luận giám định số 62/MT-PC09 ngày 19/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương: mẫu tinh thể màu trắng gửi đi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,4075 gam, loại Methamphetamine.
Đối với thanh niên tên X mua dùm ma túy cho T hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại cáo trạng số 227/CT–VKS ngày 06 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Xử lí vật chứng: Đối với bì thư niêm phong bên trong chứa 0,2896 gam ma túy, loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
Tại phiên tòa, bị cáo không tham gia tranh luận và thực hiện nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, người chứng kiến không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 16 giờ ngày 12/02/2020 Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ “A” thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi nhìn thấy lực lượng Công an, T lấy trong túi quần phía trước bên phải giao nộp.
Căn cứ Kết luận giám định số 62/MT-PC09 ngày 19/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương: mẫu tinh thể màu trắng gửi đi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,4075gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 227/CT–VKS ngày 06 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là công nhân lao động, chưa có tiền án, tiền sự và nghiện ma túy.
Xử lý vật chứng: Đối với bì thư đã niêm phong bên trong chứa 0,2896 gam là ma túy loại Methamphetamine, mẫu vật hoàn lại sau giám định đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với thanh niên tên X mua dùm ma túy cho T hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy bì thư đã niêm phong bên trong chứa 0,2896 gam là ma túy, loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2020, bút lục 69).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND tp D (01); - Công an tp D (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS tp D (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND xã các bị cáo TT (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Quân |