vanban.org

Bản án 234/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 234/2020/HS-ST
Ngày: 24/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Văn Thanh;

- Bà Trần Thị Lợi.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 204/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Thị Xuân N, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1990 tại tỉnh Tây Ninh; Hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: ấp H, xã M, huyện P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Minh T và bà Nguyễn Thị Thu L; bị cáo có chồng và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 07/8/2020, Công an thị trấn P, huyện P kiểm tra nhà trọ của bà Nguyễn Thị Th tại số 50A đường Tr, tổ 7, khu phố 3, thị trấn P, huyện P, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện tại phòng trọ số 10 của Đỗ Thị Xuân N thuê để ở có 01 bịch nylon trong sọt rác bên trong có 01 cân điện tử, 01 cái ví có chứa 05 gói nylon chứa tinh thể không màu. Trong quá trình điều tra, Xuân N khai khoảng 19 giờ ngày 07/8/2020, N được 01 người bạn tên Kh (chưa rõ lai lịch) gọi điện thoại cho N đến khu vực xã M, huyện P để lấy “hàng cấm” giao cho Kh, N làm theo yêu cầu từ vợ của Kh (chưa rõ lai lịch) đem về cất, ngày hôm sau có người đến nhận thì N sẽ được trả công 200.000 đồng.

Sau khi nhận gói hàng trên, N đem về phòng trọ và bỏ vào sọt rác, đền 23 giờ cùng ngày thì bị kiểm tra phát hiện.

Tại Bản kết luận giám định số 1365/KLGĐ-H ngày 14/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Hồ Chí Minh kết luận tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8365g, loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 200/CT-VKS.CC ngày 28 tháng 10 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Đỗ Thị Xuân N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Thị Xuân N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách Nệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) xử phạt: bị cáo Đỗ Thị Xuân N mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù và đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 1365/2020/Củ Chi là ma túy ở thế rắn có khối lượng 0,8365g loại Methamphetamine, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu đen trắng, mặt sau có chữ iphone và 01 cân điện tử.

Bị cáo N nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận và biết lỗi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để chăm sóc con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Đỗ Thị Xuân N có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy qua giám định có trọng lượng 0,8365g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphentamine. Bị cáo N thừa nhận việc tàng trữ ma túy theo yêu cầu của tên Kh (chưa rõ lai lịch) để được nhận 200.000 đồng tiền công. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ rằng chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, là mầm móng gây ra những tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn ngang Nên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn động cơ tư lợi riêng cá nhân bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.

Trong vụ án người đàn ông tên Kh và vợ của Kh hiện chưa xác định được lai lịch cơ quan điều tra sẽ làm rõ, xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xét.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N có thai khi phạm tội và sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét bị cáo tàng trữ tái phép chất ma túy mang tính chất nhỏ lẻ, không nhằm mục đích sinh lợi lớn nên không cần thiết phạt tiền bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng vụ án:

01 gói niêm phong mang số vụ 1365/2020/Củ Chi, có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên.

Vật chứng nêu trên là vật, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

01 điện thoại di động màu đen trắng, mặt sau có chữ iphone và 01 cân điện tử là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

- Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy:

01 gói niêm phong mang số vụ 1365/2020/Củ Chi, có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

01 điện thoại di động màu đen trắng, mặt sau có chữ iphone và 01 cân điện tử.

(Phiếu nhập kho vật chứng số 181/PNK ngày 23/9/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi).

- Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo N phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ chữ