- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Doãn V phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG Bản án số: 234/2018/HSST Ngày: 15-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Nguyễn Thị Thu Hƣơng.
- Các Hội thẩm nhân dân :
+ Ông Nguyễn Trung Bắc
+ Bà Nguyễn Thị Tƣơi.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Quang Dũng -Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Thanh- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2018/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 226A/2018/QĐXXST-HS ngày 01/11/2018 đối với bị cáo:
Đoàn Doãn V, sinh năm: 1983. Tại Thành phố Hải Dƣơng.
ĐKHKTT: Khu 3 phƣờng TB, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng.
Chỗ ở: Số 82 NQT, phƣờng TB, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng.
Tên gọi khác: không;
Giới tính: Nam.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 12/12.
Con ông: Đoàn Doãn T (đã chết) và bà Đoàn Thị B.
Vợ: Chị Nguyễn Thị Th.
Bị cáo có 02 con: Con lớn sinh năm 2009; con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền sự: Chƣa
Tiền án: Bản án số 49/2015/HSST ngày 08/4/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xử phạt V 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ( giá tài sản 5.750.000đ). V chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2015.
Bản án số 136/2017/HSST ngày 08/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xử phạt V 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (giá tài sản 1.492.000đ). V chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/12/2017.
*Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ-XPHC ngày 02/10/2014, của Chủ tịch UBND phƣờng TB, thành phố Hải Dƣơng áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong ngày 02/01/2015.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2018, chuyển tạm giam từ ngày 15/6/2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1986.
ĐKHKTT: Khu 3 phƣờng TB, thành phố Hải Dƣơng.
Chỗ ở: Số 82 NQT, phƣờng TB, thành phố Hải Dƣơng.
Chị Th có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời làm chứng:
1. Anh Đoàn Văn T1, sinh năm 1990.
Trú tại: Khu 3 phƣờng HT, thành phố Hải Dƣơng.
2. Anh Tạ Ngọc T2, sinh năm 1997.
Đị chỉ: Thôn CN, xã TT, huyện TH, tỉnh Hải Dƣơng.
Anh T1, anh T2 vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Đoàn Doãn V có sử dụng ma túy tổng hợp, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/6/2018, V điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream biển số: 89F5 - 9676 (mƣợn của vợ là chị Nguyễn Thị Th) đến khu vực đƣờng Lê Hồng Phong - TP Hải Dƣơng thì gặp anh T1 (ở phố Trƣơng Mỹ, TP Hải Dƣơng, không rõ họ, địa chỉ cụ thể), Việt đƣa anh T1 200.000 đồng hỏi mua ma túy, anh T1 cầm tiền rồi bảo V đứng đợi ở ngõ Quyết Thắng tiếp giáp với đƣờng Trƣơng Mỹ. Khoảng 10 phút sau, anh T1 quay lại đƣa cho V 01 gói ma túy, V cất vào túi quần rồi đi về nhà. Khoảng 18 giờ cùng ngày, khi V đang đi đến khu vực Nguyễn Chí Thanh giao với đƣờng Nhữ Đình Hiền thuộc khu 2, phƣờng TB, TP Hải Dƣơng thì bị Phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Hải Dƣơng kiểm tra, V tự giác giao nộp 01 gói nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể, 01 xe mô tô kiểu dáng Dream biển số: 89F5 - 9676 trƣớc sự chứng kiến của anh Đoàn Văn T2 và anh Tạ Ngọc T1.
Tại kết luận giám định số 393/KLGĐ-PC54 ngày 10/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất bột (dạng tinh thể ) màu trắng ghi thu của Đoàn Doãn V, gửi đến giám định có khối lƣợng là 0,227gam, là loại Methamphetamine.
Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số 200 /CT-VKSTPHD ngày 13/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo Đoàn Doãn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Đoàn Doãn V đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đoàn Doãn V và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Doãn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xử phạt bị cáo Đoàn Doãn V từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 07/6/2018.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo .
- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2; khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
+ Tịch thu tiêu huỷ: Lƣợng ma tuý hoàn lại sau giám định 0,148 gam Methamphetamine.
Trả lại bị cáo Đoàn Doãn V và chị Nguyễn Thị Th 01 xe mô tô kiểu dáng Dream theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2018.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nhƣng theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu lệ phí, án phí Toà án, bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên bị cáo đƣợc miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, phù hợp lời khai của bị cáo, ngƣời làm chứng, kết luận giám định, biên bản phạm tội quả tang. Hội đồng xét nhận thấy nhƣ sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 07/6/2018, tại khu vực ngã tƣ Nguyễn Chí Thanh giao với đƣờng Nhữ Đình Hiền thuộc khu 2, phƣờng T B, TP Hải Dƣơng. Đoàn Doãn V cất giấu trái phép trong ngƣời 0,227 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát hình sự (PC45) Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Bị cáo thực hiện hành vi lỗi cố ý biết việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật. Bị cáo cất giấu trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi trên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là đúng ngƣời, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an ninh xã hội. Việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy Nhà nƣớc nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc đối với những đối tƣợng mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn khác trong xã hội, ảnh hƣởng xấu đến nhân cách, đạo đức, sức khỏe con ngƣời. Bị cáo có nhân thân xấu đã có 01 tiền sự (đã xóa tiền sự) và bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xử hai lần về tội Trộm cắp tài sản khi ra trại bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy cần có mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại B¶n ¸n sè 49/2015/HSST ngµy 08/4/2015 cña Toµ ¸n nh©n d©n TP. H¶i Dƣ¬ng xö ph¹t Đoàn Doãn V 07 th¸ng tï vÒ téi Trộm cắp tài sản (TrÞ gi¸ tµi s¶n chiÕm ®o¹t lµ 5.750.000đ), V chÊp hµnh xong h×nh ph¹t tï ngµy 19/12/2015; B¶n ¸n sè 136/2017/HSST ngµy 08/8/2017 cña Toµ ¸n nh©n d©n TP. H¶i Dƣ¬ng xö ph¹t V 07 th¸ng tï vÒ téi Trém c¾p tµi s¶n V chÊp hµnh xong h×nh ph¹t tï ngµy 18/12/2017 (TrÞ gi¸ tµi s¶n chiÕm ®o¹t lµ 1.492.000® dƣới định lƣợng truy tố là điều kiện đủ để xét xử bị cáo nên bản án này không tính là tái phạm). Do vậy xác định bị cáo có 01 tiền án tại bản án số 49/2015/HSST ngày 08/4/2015 đến ngày 07/6/2018, bị cáo lại phạm tội cố ý Tàng trữ trái phép chất ma túy tiếp thuộc trƣờng hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo đƣợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định bị cáo là hộ nghèo, cận nghèo nên không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Lƣợng ma tuý hoàn lại sau giám định 0,148 gam Methamphetamine là vật cấm lƣu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
Theo điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Dream thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra bị cáo khai là tài sản riêng của chị Th (là vợ). Tại phiên tòa chị Th trình bày chiếc xe mô tô trên là do chị mua thời gian bị cáo ở trong trại. Nay chị xác định là tài sản chung của chị Th và bị cáo V. Chị Th, bị cáo V cùng đề nghị Tòa án trả lại xe mô tô trên để chị Th sử dụng làm phƣơng tiện đi lại. HĐXX nhận thấy ngày 07/6/2018 Đoàn Doãn V điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream màu đỏ đen biển số 89F5-9676 (xe của vợ chồng bị cáo) đi mua ma túy để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát hình sự (PC45) -Công an thỉnh Hải Dƣơng kiểm tra, Việt tự giao nộp 01 gói nilon bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể, 01 xe mô tô kiểu dáng Dream màu đỏ đen. Biển số 89F5-9676.
Tại Công văn phiếu tra cứu xe máy vật chứng số 479/XMTV-PC52 ngày 24/8/2018 của Phòng PC52 Công an tỉnh Hải Dƣơng. Nội dung tra cứu: Biển kiểm soát: 89-9676-F5; số máy:FMG*01854511; số khung CG003YVN001511. Kết quả tra cứu:” Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng”. Do vậy tài sản chiếc xe mô tô trên V không dùng làm phƣơng tiện phạm tội nên cần trả lại cho chị Th và bị cáo phù hợp pháp luật.
Quá trình điều tra không làm rõ đƣợc ngƣời bán trái phép chất ma túy cho V nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp pháp luật.
Án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nhƣng bị cáo là hộ nghèo, cận nghèo nên đƣợc miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu lệ phí, án phí Toà án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, chị Th không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định mức thu lệ phí, án phí toà án.
Tuyên bố bị cáo Đoàn Doãn V phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Đoàn Doãn V 13 (mƣời ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/6/2018.
- Về vật chứng:
+ Tịch thu tiêu huỷ 0,148 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 393/KLGĐ-PC54 Công an tỉnh Hải Dƣơng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dƣơng ngày 17/9/2018).
+ Trả lại Đoàn Doãn V và chị Nguyễn Thị Th 01 (một) xe mô tô BKS: 89F5-9676, kiểu dáng Dream, màu đỏ đen (xe đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dƣơng ngày 09/11/2018).
- Án phí: Bị cáo Đoàn Doãn V thuộc hộ nghèo, cận nghèo đƣợc miễn 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Doãn V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị Th đƣợc quyền kháng cáo bản án phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi gửi:
| - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND Tp. Hải Dương; - CQCSĐT Công an TP. Hải Dương; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Chi cục THA Tp Hải Dương; - Trại tạm giam Kim Chi; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hƣơng |