- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế V - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế V, giữ nguyên bản án sơ th m.
- Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 234/2017/HSPT Ngày: 11/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
V i thành ph n Hội đ ng t phúc th m g m có:
Th m phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hương
Các th m phán:
Ông Nguyễn Thành Lượng
Bà Phạm Thị Xuân Đào
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài
Đại diện VKSND tỉnh Đ ng Nai: Ông Trần Văn Khanh - Kiểm sát
viên.
Hôm nay, ngày 11 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Đ ng Nai t
phúc th m công khai vụ án hình sự thụ lý số 189/2017/HSPT ngày 07/8/2017 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế V đối v i bản án hình sự sơ th m số 30/2017/HSST ngày 28/6/2017 của TAND huyện P.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thế V (tên gọi khác: D T K, D B K), sinh năm 1978 tại Hà Tĩnh; Nơi ĐKTT: xã M1, huyện N1, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: ấp L, xã M2, huyện N2, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn C (đã chết); Họ và tên mẹ: Lê Thị H (đã chết); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con út; Họ và tên vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1979 (không có con chung và đã ly hôn). Hiện sống chung như vợ ch ng v i Tr n Thị N, sinh năm 1985 (Chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con chung, sinh năm 2008.
- Tiền án: có 04 tiền án.
+ Ngày 07/9/1999, bị TAND huyện N3, tỉnh Đ ng Nai phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
+ Ngày 13/3/2003, bị TAND quận X1, Tp. H Chí Minh phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
+ Ngày 07/6/2004, bị TAND tp. N4, tỉnh Đ ng Nai phạt 36 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
+ Ngày 29/7/2008, bị TAND Quận X2, Tp. H Chí Minh phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”. Ngày 10/4/2015, chấp hành ong hình phạt tù.
- Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt giam từ ngày 15/3/2017.
(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Đặng Bá T2, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa không triệu tập)
NHẬN THẤY
Theo án hình sự sơ th m: Vào khoảng đ u tháng 11/2016, T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển e mô tô hiệu Honda Future, BS: 60B5 – 359.78 đến gặp V tại vườn điều g n nhà V thuộc ấp L, xã M2, huyện N2. Tại đây, T1 nhờ V c m chiếc e trên v i số tiền 7.000.000 đ ng để trừ số tiền 1.200.000 đ ng mà T1 nợ V trư c đó. Do không có tiền nên V không nhận c m e. Ngày hôm sau, T1 gọi điện nhờ V tìm người bán giùm chiếc e trên, V có hỏi về ngu n gốc e thì T1 nói xe trên không có giấy tờ, do bạn của T1 trộm ở huyện Y. Sau đó, V gọi điện thoại cho Đặng Bá T2 nói có 01 chiếc e Honda Future không giấy tờ, do người khác trộm cắp c n bán v i giá là 6.000.000 đ ng. Sau khi trao đổi, T2 yêu c u V g i hình ảnh chiếc e qua mạng Zalo cho T2 em. Khi thấy e thì T2 đ ng ý mua v i giá trên và hẹn gặp V tại đoạn đường g n khu vực phân trại K1 Trại giam N2 để giao e. Tại đây, T2 đưa cho V số tiền 6.000.000 đ ng và V giao chiếc e trên cho T2. Sau khi nhận tiền thì V đưa cho T1 toàn bộ số tiền trên và được T trả lại số tiền 1.200.000 đ ng tiền nợ. Còn T2 khi đem e về nhà thì thấy chiếc e vừa mua có đặc điểm giống v i e mô tô của anh Ngô Xuân T3 (bạn của T2) bị mất trư c đó nên đã gọi điện cho anh T3 để ác nhận. Khi anh T3 ác nhận là e của anh bị mất thì T2 nói sẽ trả lại e cho anh T3 và yêu c u anh T3 trả lại số tiền đã mua e anh T3 đ ng ý. T2 nhờ Hoàng Văn N điều khiển e mô tô trên uống nhà anh Phạm Đình C tại ấp 10, xã M3, r i hẹn anh T3 đến nhà C để lấy e. Tại đây, anh T3 đưa cho T2 số tiền 2.000.000 đ ng và lấy e về. Sau đó, sự việc bị phát hiện và lý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐG ngày 13/12/2016 của Hội đ ng định giá tài sản UBND huyện P ác định: 01 chiếc e mô tô hiệu Honda Future, màu đỏ đen, BS: 60B5-359.78 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá 19.600.000 đ ng.
Vật chứng vụ án: 01 chiếc e mô tô hiệu Honda Future, màu đỏ đen, BS: 60B5-359.78, T2 đã trả cho anh T3.
Về trách nhiệm dân sư: anh Ngô Xuân T3 đã nhận lại e và số tiền 2.000.000 đ ng nên không có yêu c u gì thêm về mặt dân sự.
Bị cáo Nguyễn Thế V và Đặng Bá T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp v i các tài liệu có trong h sơ vụ án và nội dung cáo trạng
Tại bản án hình sự sơ th m số 30/2017/HSST ngày 28/6/2017 của TAND huyện P đã áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 250 BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 33, Điều 53 BLHS phạt: bị cáo Nguyễn Thế V 02 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngoài ra, án sơ th m còn phạt: bị cáo Đặng Bá T2 06 tháng tù cùng tội danh trên và còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 06/7/2017, bị cáo Nguyễn Thế V kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo V tiếp tục đề nghị HĐXX em t kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có quan điểm cho rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, đã âm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự công cộng tại đại phương. Cấp sơ th m đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định mức án 02 năm 06 tháng tù đối v i bị cáo là phù hợp. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ th m.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được th m tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở em t đ y đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo Nguyễn Thế V khai nhận: Khoảng tháng 11/2016, có đối tượng tên T1 (là bạn bè ngoài ã hội v i bị cáo nhưng không rõ địa chỉ) đã nhờ V tìm người mua chiếc e mô tô hiệu Honda Future, biển số 60B5 – 359.78 trị giá 19.600.000 đ ng mà T vừa trộm cắp được đem bán. Mặc dù biết rõ chiếc e trên là do T trộm cắp nhưng bị cáo V vẫn đ ng ý tìm người tiêu thụ và đã gi i thiệu bán cho anh Đặng Bá T2 chiếc xe trên v i giá 6.000.000 đ ng. Do bị cáo có nhân thân ấu đã từng có 04 tiền án chưa được óa án tích (trong đó có 02 tiền án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”) nên tòa án cấp sơ th m đã áp dụng điểm đ “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại khoản 2 Điều 250 BLHS để phạt bị cáo Nguyễn Thế V 02 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, đã âm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi lượng hình, cấp sơ th m đã em t tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cũng như tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS để phạt bị cáo mức án trên là phù hợp, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo đề nghị em t giảm nhẹ hình phạt v i lý do gia đình bị cáo có công v i cách mạng, được nhà nư c tặng thưởng nhiều huân chương và hiện nay vợ bị cáo m i sinh con nhỏ, nhưng lại không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh. Trong khi qua các bản án (04 tiền án) có trong h sơ vụ án cũng không có bản án nào thể hiện gia đình bị cáo có người thân là người có công v i cách mạng như bị cáo trình bày. Do đó, không có cơ sở để HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
X t quan điểm của đại diện VKS phù hợp v i nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế V, giữ nguyên bản án sơ th m.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 250 BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 33, Điều 53 BLHS.
X phạt: bị cáo Nguyễn Thế V (tên gọi khác: D T K, D B K) 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2017.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí HSPT.
Các quyết định khác của bản án sơ th m không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKS tỉnh - VKS huyện P(2); - PV 27; - TAND huyện P(2); - THADS huyện P; - CA huyện P; - Bị cáo – B5 (2); - Lưu (3). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Hồng Hương |