- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc).
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2335/2026/DS-ST Ngày 23-6-2026 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ái Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Mỹ
2. Ông Đoàn Quốc Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Hồng An, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 1042/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 578/2026/QĐXX-ST ngày 11/5/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 292/2026/QĐST-DS ngày 02/6/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc)
Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Thắng
(Văn bản ủy quyền ngày 26/11/2024); (Có đơn đề nghị vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Thông Minh, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
CCCD số: xxxxxxxxx
Địa chỉ: 42 Bùi Hữu Nghĩa, phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07 tháng 8 năm 2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc) và ông Nguyễn Thông Minh ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của ông Minh, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với tổng hạn mức sử dụng là 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng cho ông Minh sử dụng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Minh đã sử dụng thẻ để giao dịch với tổng số tiền 74.699.980 đồng. Trong suốt quá trình sử dụng thẻ, ông Minh đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền 60.861.607 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Minh vẫn không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng. Ngày 23/10/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 23/6/2026, ông Nguyễn Thông Minh còn nợ Ngân hàng số tiền: 57.343.246 đồng, trong đó: Nợ gốc: 26.808.666 đồng; Lãi quá hạn: 30.534.580 đồng.
Vì vậy Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thông Minh thanh toán toàn bộ nợ vay phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng cho Ngân hàng với tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/6/2026 số tiền là 57.343.246 đồng cùng với tiền lãi phát sinh từ ngày 24/6/2026 cho đến khi trả dứt nợ.
* Bị đơn ông Nguyễn Thông Minh đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 30/12/2025 và ngày 08/01/2026 nhưng ông Minh vắng mặt không lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên Thẩm phán còn chưa thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
* Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc) và ông Nguyễn Thông Minh là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh: Bị đơn ông Nguyễn Thông Minh có đăng ký thường trú tại địa chỉ: 42 Bùi Hữu Nghĩa, phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Thông Minh tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần nhất vào ngày 02/6/2026 và lần thứ hai vào ngày 23/6/2026 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Thông Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Thắng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/8/2020 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) có chữ ký của ông Nguyễn Thông Minh; Bảng tóm tắt sao kê thẻ tín dụng số 472074-0244 cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn đã cấp thẻ tín dụng cho bị đơn sử dụng với hạn mức 25.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với số tiền 74.699.980 đồng + Nợ lãi: 40.948.434 đồng; Phí trễ hạn: 1.110.436 đồng; Phí vượt hạn mức: 450.000 đồng, Phí: 996.000 đồng. Tổng cộng các khoản là: 118.204.853 đồng. Nhưng suốt quá trình sử dụng thẻ bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 60.861.607 đồng. Ngày 23/10/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bị đơn sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Sau khi ưu tiên thanh toán các loại phí và lãi trong hạn thì tính đến ngày 23/6/2026, ông Nguyễn Thông Minh còn nợ nguyên đơn số tiền: 57.343.246 đồng, trong đó:
- Nợ gốc là: 26.808.666 đồng;
- Lãi quá hạn là: 30.534.580 đồng.
Mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở nhiều lần và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết tại hợp đồng. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc là phù hợp với quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và phù hợp với quy định tại các Điều 471, 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
Trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng các bên đã thống nhất thỏa thuận, lãi suất được áp dụng theo biểu lãi suất thẻ tín dụng, nên việc ông Nguyễn Thông Minh không thanh toán tiền nợ gốc, lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xem xét về thời gian tính lãi, mức lãi suất và phí trễ hạn, phí vượt hạn mức, phí mà ngân hàng đã áp dụng là hoàn toàn phù hợp thỏa thuận của các bên đương sự được quy định tại Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 22 và Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Thông Minh thanh toán nợ lãi tính đến ngày 23/6/2026 số tiền 30.534.580 đồng là có cơ sở để chấp nhận.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả theo lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi trả xong nợ kể từ ngày 24/6/2026. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng nên chấp nhận.
Bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Vì vậy, bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc) buộc bị đơn ông Nguyễn Thông Minh thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 57.343.246 đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc 26.808.666 đồng và 30.534.580 đồng tiền lãi quá hạn tính đến ngày 23/6/2026 là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 63, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 357, Điều 466, điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật án phí, lệ phí Tòa án số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc).
Ông Nguyễn Thông Minh có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc) số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cấp ngày 07/8/2020 số tiền là 57.343.246 đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc 26.808.666 đồng và 30.534.580 đồng tiền lãi quá hạn tính đến ngày 23/6/2026, thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 24/6/2026, ông Nguyễn Thông Minh còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc với mức lãi suất theo quy định tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 07/8/2020 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Thi hành tại Phòng Thi hành án dân sự có thẩm quyền, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí dân sự sơ thẩm là 2.867.162 đồng ông Nguyễn Thông Minh phải chịu.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.101.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009951 ngày 20/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND Khu vực 5; - VKSND Tp.HCM; - Phòng THADS Khu vực 5; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ái Long Trần Thị Ái Long THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ái Long |